Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CB

TỈNH CB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03a/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 09/01/2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CB, TỈNH CB

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trịnh Văn Phương
  2. Ông Luân Văn Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố CB, tỉnh CB.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố CB, tỉnh CB: Bà Vũ Thị Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố CB, tỉnh CB xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 41/2023/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 249/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2023/QÐST-DS ngày 21 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị H – sinh năm 1986; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ C, phường D, thành phố C, tỉnh CB; Có mặt.

- Bị đơn: Ông Đinh Viết B – sinh năm 1987; Nơi ĐKTT: TDP N, phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; Chỗ ở hiện nay: Tổ C, phường D, thành phố C, tỉnh CB. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Hoàng Thị H trình bày:

Hoàng Thị H và ông Đinh Viết B kết hôn năm 2009, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu, tiến hành tổ chức lễ cưới ở cả hai bên gia đình, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện D, tỉnh Hà Nam ngày 01/10/2009. Ban đầu vợ chồng cùng làm việc tại khu công nghiệp Đ, tỉnh Hà Nam, đến năm 2013 chuyển lên CB và sinh sống tại tổ C, phường D, thành phố C, tỉnh CB.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc từ sau khi kết hôn đến tháng 8 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do chồng hay ghen và nhiều lúc say rượu đánh vợ. Trong quá trình mâu thuẫn có xảy ra cãi vã, nhiều lần ông B say rượu đánh bà H. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 8 năm 2023 cho đến nay, mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng. Gia đình hai bên và tự bản thân vợ chồng đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Trong thời gian mâu thuẫn vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Do đó, bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn và yêu cầu ly hôn ông B.

Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Đinh Hoàng A - sinh ngày 29/3/2010 (Giới tính: Nam) và Đinh Hoàng H1 – sinh ngày 27/3/2020 (Giới tính: Nam), hiện nay các con đang ở nhờ nhà bà ngoại với mẹ. Trường hợp ly hôn, bà H sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục các con chung Đinh Hoàng AĐinh Hoàng H1 cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.

Về cấp dưỡng nuôi con: yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con với mức 5.000.000 đồng/tháng/02 con (mỗi con 2.500.000 đồng/tháng).

Về tài sản chung: bà H xác nhận vợ chồng có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà H xác nhận vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Đinh Viết B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Xác nhận thời gian kết hôn như nguyên đơn trình bày là đúng, bổ sung thêm ý kiến: năm 2013 bà H lên C trước, đến 2014 ông B mới lên CB để mở xưởng kinh doanh và sinh sống tại tổ C, phường D, thành phố C, tỉnh CB. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu do bà H có quan hệ ngoài hôn nhân với người đàn ông khác.

Ông B xác nhận có mắng chửi vợ và có đánh vợ do tâm lý không ổn định khi vợ ngoại tình. Vợ chồng ly thân từ tháng 8 năm 2023 đến nay, thời gian ly thân, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc gì nhau nữa. Nay bà H yêu cầu ly hôn ông cũng nhất trí.

Về con chung: Ông B không nhất trí với ý kiến của nguyên đơn, ông có nguyện vọng muốn nuôi cả hai con Đinh Hoàng AĐinh Hoàng H1 cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.

Về cấp dưỡng nuôi con: yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con với mức 4.600.000 đồng/tháng/02 con (mỗi con 2.300.000 đồng/tháng).

Về tài sản chung, nợ chung: Ông Đinh Viết B xác nhận vợ chồng có tài sản chung là Công ty TNHH H2 và có nợ chung.

Tại biên bản xác minh ngày 08/11/2023, bà La Thị P – Tổ trưởng tổ C, phường D, thành phố C, tỉnh CB cho biết: Bà Hoàng Thị H và ông Đinh Viết B có quan hệ vợ chồng. Sau khi kết hôn chung sống với nhau tại tổ C, phường D, thành phố C, tỉnh CB. Tổ dân phố có biết việc mâu thuẫn giữa bà H và ông B, thời gian bà H và ông B sinh sống tại tổ C, phường D vợ chồng có xô sát nhẹ. Vợ chồng có 02 con chung đang ở với bà H tại tổ C, phường D.

Tại biên bản xác minh ngày 05/12/2023, ông Lý Thanh T – Cảnh sát khu vực tổ A, phường Đ, thành phố C, tỉnh CB cho biết: Ngày 18/8/2023 Công an phường Đ, thành phố C, tỉnh CB nhận được đơn trình báo của bà Hoàng Thị H về việc khoảng 1h sáng ngày 18/8/2023 bà H bị chồng là ông Đinh Viết B đánh bị thương và đuổi khỏi quán tại tổ A, phường Đ, thành phố C, tỉnh CB. Sự việc trên đã được Công an phường Đ lập biên bản làm việc và ghi nhận ý kiến của các bên có liên quan đến sự việc. Sau đó cả ông B và bà H đã thống nhất hòa giải, không yêu cầu giải quyết gì thêm.

Ngày 26/10/2023 Tòa án nhân dân thành phố CB tiến hành lấy ý kiến của con chưa thành niên là cháu Đinh Hoàng A. Ý kiến của cháu Hoàng A như sau: Khi bố mẹ còn chung sống bố có uống rượu và đánh mẹ vài lần. Bố cũng thỉnh thoảng quát mắng và đánh cháu, có lúc đánh cháu thâm tím, bị thương chảy máu. Trường hợp bố mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng sống cùng mẹ vì mẹ là người quan tâm, chăm sóc cháu hàng ngày.

Tại phiên toà, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố CB tham gia tố tụng tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng theo quy định của pháp luật, việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có sai phạm. Quan điểm của việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hoàng Thị H. Về con chung: Giao 02 con chung cho bà Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, ông Đinh Viết B có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định. Bà Hoàng Thị H và ông Đinh Viết B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật có tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố CB, tỉnh CB.

Bị đơn được triệu tập lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị H và ông Đinh Viết B kết hôn năm 2009, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu, tiến hành tổ chức lễ cưới ở cả hai bên gia đình, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện D, tỉnh Hà Nam. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông B là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Sau khi kết hôn, bà H và ông B chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 8 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà H là do ông B hay ghen tuông và nhiều lúc say rượu đánh bà H. Còn theo ông B nguyên nhân mâu thuẫn là do bà H có mối quan hệ ngoài hôn nhân với người đàn ông khác. Nay bà H xác nhận tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn ông B. Ông B cũng nhất trí ly hôn bà H.

Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông B chỉ tồn tại trên danh nghĩa, tình cảm yêu thương quan tâm chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau đã không còn, mâu thuẫn đã đến mức độ trầm trọng. Nay bà H và ông B đều nhất trí ly hôn nên cần cho ly hôn theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

[2.2] Về con chung: Hai bên đương sự xác nhận quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Đinh Hoàng A - sinh ngày 29/3/2010 (Giới tính: Nam) và Đinh Hoàng H1 – sinh ngày 27/3/2020 (Giới tính: Nam).

Quá trình giải quyết vụ án cả hai bên đương sự đều đề nghị được trực tiếp nuôi con nhưng xét thấy quá trình chung sống vợ chồng ông B có hành vi đánh vợ, sự việc ông B đánh vợ đã được ông B thừa nhận tại Biên bản làm việc ngày 24/8/2023 của Công an phường Đ, thành phố C, tỉnh CB. Hơn nữa, trong 02 lần Tòa án triệu tập đến phiên tòa ông B đều vắng mặt không có lý do, ông B cũng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh ông có điều kiện nuôi con tốt hơn bà H. Do đó, căn cứ vào nguyện vọng của cháu Đinh Hoàng A và để đảm bảo cho các cháu có điều kiện sống tốt nhất, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao 02 con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà H yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con với mức là 5.000.000 đồng/tháng/02 con (mỗi con 2.500.000 đồng/tháng) và cung cấp cho Tòa án bảng kê chi tiết các khoản tiền chi cho 02 cháu hàng tháng.

Căn cứ bảng kê của bà H và điều kiện sinh hoạt tại địa phương, Hội đồng xét xử xét thấy mức cấp dưỡng hợp lý là 1.800.000 đồng/tháng/01 cháu. Do đó, cần buộc ông B có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi 02 con chung, mỗi con chung là 1.800.000đ/01 tháng cho đến khi các con chung thành niên. Cấp dưỡng theo tháng và bắt đầu từ tháng 02 năm 2024.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung:

Tại buổi hòa giải ngày 03/11/2023 các bên đương sự đều xác nhận có tài sản chung và nợ chung, Tòa án đã cho các bên thời gian để nộp đơn yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung nhưng hết thời gian ấn định các bên đương sự vẫn không giao nộp cho Tòa án, do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Các bên đương sự phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị H. Xử cho bà Hoàng Thị H được ly hôn ông Đinh Viết B.
  • - Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Đinh Hoàng A - sinh ngày 29/03/2010 (Giới tính: Nam) và Đinh Hoàng H1 – sinh ngày 27/3/2020 (Giới tính: Nam) cho bà Hoàng Thị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các con chung thành niên.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con chung: ông Đinh Viết B có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi 02 con chung, mỗi con chung là 1.800.000đ(một triệu tám trăm nghìn đồng)/01 tháng, 02 con chung là 3.600.000đ (ba triệu sáu trăm nghìn đồng)/01 tháng cho đến khi các con chung thành niên. Cấp dưỡng theo tháng và bắt đầu từ tháng 02 năm 2024.
  • - Thăm nom con chung sau khi ly hôn: Sau khi ly hôn người không trực tiếp có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con chung cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • - Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hoàng Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn để sung công quỹ nhà nước. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà H đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003444 ngày 25/9/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố CB, tỉnh CB. Xác nhận bà H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  • Ông Đinh Viết B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con để sung công quỹ nhà nước.
  • - Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh CB;
  • - Viện kiểm sát TP CB;
  • - Thi hành án DS TP CB;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM HỘI

ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Hoài Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03a/2023/HNGĐ-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CB, TỈNH CB về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 03a/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CB, TỈNH CB
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn Hoàng Thị H - Đinh Viết B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger