|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2024/KDTM-ST.
Ngày: 31-7-2024.
V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Huỳnh Sinh.
2. Bà Bùi Thị Út.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hoàng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Y - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2024/TLST-KDTM ngày 02 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/QĐXXST-KDTM ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/QĐST-KDTM ngày 16 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Công ty TNHH D.
Địa chỉ trụ sở: Số F đường số A, Khu dân cư N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Lê C - Chức vụ: Giám đốc (Có mặt).
Nơi thường trú: P Tập thể K, phường K, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
2/ Bị đơn: Công ty Cổ phần S.
Địa chỉ: Số B đường H, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Đoàn Duy N - Chức vụ: Tổng Giám đốc (Vắng mặt).
Nơi thường trú: Khu phố F, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn là ông Đặng Lê C trình bày:
Vào ngày 01/8/2022, tại Công ty TNHH D (Viết tắt là Công ty D); giữa Công ty D và Công ty Cổ phần S (Viết tắt là Công ty S) ký Hợp đồng mua bán xăng dầu số 04/LA-TA/HĐKT08-2022 (Viết tắt là Hợp đồng). Theo nội dung hai bên thỏa thuận thì Công ty D cung cấp (bán) cho Công ty S một số lượng hàng hóa là dầu Diesel 0,05%S-II như các điều khoản quy định tại Hợp đồng; cụ thể:
- Theo quy định tại khoản 3.3 Điều 3 của Hợp đồng thì thủ tục đặt hàng như sau: “Chậm nhất vào 08 giờ 30 phút Công ty S đăng ký với Công ty D về lượng dầu sẽ tiếp nhận của ngày tiếp theo bằng văn bản chuyển qua email hoặc Fax có sự xác nhận của Công ty D ... Số lượng hàng hóa giao nhận căn cứ theo số lượng ghi trên hóa đơn GTGT của Công ty D phát hành”.
- Giá bán và phương thức thanh toán quy định tại khoản 5.1 Điều 5 của Hợp đồng, cụ thể:
+ Giá trị đơn hàng = Đơn giá x Khối lượng tại đơn hàng.
Trong đó: Đơn giá (đ/l) = Đơn giá dầu Diesel 0,05%S-II được niêm yết tại cây xăng gần điểm giao hàng. Giá trị đơn hàng đã bao gồm thuế GTGT và phí vận tải và được thể hiện trên hóa đơn tài chính Công ty D xuất sang cho Công ty S.
- Hình thức thanh toán quy định tại khoản 5.2 Điều 5 của Hợp đồng, cụ thể: Chuyển khoản, chi phí chuyển khoản do Công ty S chịu.
- Thời hạn thanh toán quy định tại mục 5.3.1 khoản 5.3 Điều 5 của Hợp đồng; cụ thể: Đối với từng đơn hàng, Công ty S cam kết thanh toán thành 02 đợt. Đợt 1 thanh toán 50% giá trị đơn hàng ngay khi đơn được xác nhận. Đợt 2 thanh toán 50% giá trị còn lại ngay khi đặt đơn hàng kế tiếp nhưng không chậm hơn 07 ngày kể từ ngày thanh toán đợt 1.
- Đối chiếu công nợ quy định tại mục 5.3.2 khoản 5.3 Điều 5 của Hợp đồng, cụ thể: Công ty D sẽ lập đối chiếu công nợ gửi qua mail và gửi bản giấy hai bên sẽ ký đóng dấu xác nhận làm cơ sở thanh toán. Trường hợp sau 5 ngày làm việc tính từ ngày Công ty S nhận được đối chiếu công nợ (theo xác nhận của đơn vị chuyển phát nhanh) Công ty D không nhận được xác nhận hay phản hồi của Công ty S thì mặc định số liệu của Công ty D trong đối chiếu công nợ là đúng và áp dụng để thanh quyết toán giữa hai bên.
- Trong trường hợp Công ty S không thanh toán cho Công ty D theo đúng thời gian quy định của Hợp đồng thì Công ty S sẽ phải chịu lãi suất là 2%/tháng nhân với số ngày chậm trả.
- Tại khoản 7.1 Điều 7 của Hợp đồng đã quy định rõ nghĩa vụ của Công ty S như sau:
- Ký đối chiếu công nợ khi Công ty D gửi biên bản công nợ theo Điều 5.3.2 của hợp đồng này.
- Theo dõi và thanh toán công nợ đúng theo quy định của hợp đồng này.
- Trực tiếp giao nhận hoặc ủy quyền người bằng văn bản cho người có đủ thẩm quyền và trách nhiệm tham gia giao nhận hàng hóa và ký biên bản giao nhận.
Thực hiện theo nội dung của Hợp đồng, Công ty D đã bán dầu Diesel 0,05%S-II và xuất hóa đơn GTGT cho Công ty S như sau:
- Ngày 03/8/2022, Công ty D đã giao hàng cho Công ty S 20.000 lít dầu Diesel 0,05%S-II, người nhận hàng là ông Nguyễn Văn T.
- Ngày 05/9/2022, Công ty D đã giao hàng cho Công ty S 20.000 lít dầu Diesel 0,05%S-II, người nhận hàng là ông Nguyễn Văn T.
Vào các ngày 02/8/2022, 04/8/2022, 06/8/2022, 08/8/2022 và 05/9/2022; Công ty D đã xuất hóa đơn GTGT bán hàng 40 lít dầu Diesel 0,05%S-II cho Công ty S với tổng số tiền là 1.001.000.000 đồng.
Công ty S đã thanh toán cho Công ty D số tiền mua dầu Diesel 0,05%S-II vào các ngày, cụ thể như sau:
- Ngày 01/8/2022, Công ty S đã chuyển khoản thanh toán cho Công ty D số tiền 20.000.000 đồng.
- Ngày 03/8/2022, Công ty S đã chuyển khoản thanh toán cho Công ty D số tiền 223.000.000 đồng.
- Ngày 11/10/2022, Công ty S đã chuyển khoản thanh toán cho Công ty D số tiền 100.000.000 đồng.
- Ngày 23/12/2022, Công ty S đã chuyển khoản thanh toán cho Công ty D số tiền 100.000.000 đồng.
- Ngày 05/01/2023, Công ty S đã chuyển khoản thanh toán cho Công ty D số tiền 100.000.000 đồng.
Như vậy, Công ty S đã chuyển khoản thanh toán cho Công ty D số tiền 543.000.000 đồng.
Từ ngày 06/01/2023 đến nay, Công ty S không thanh toán cho Công ty D số tiền còn lại là 458.000.000 đồng mặc dù đã được trực tiếp, gián tiếp đề nghị nhiều lần.
Ngoài ra, đại diện cho Công ty D, ông Đặng Lê C đề nghị Tòa án giải quyết buộc Công ty S phải trả cho Công ty D số tiền lãi chậm thanh toán như đã thỏa thuận tại Hợp đồng là 2%/tháng (tức 24%/năm) từ ngày chậm thanh toán đến ngày xét xử sơ thẩm hôm nay. Tuy nhiên phía Công ty D chỉ yêu cầu mức lãi chậm thanh toán là 20%/năm; cụ thể như sau:
- Đối với giao nhận hàng lần 01: Số tiền hàng là 487.400.000 đồng, số tiền trả đúng hạn là 243.000.000 đồng vào các ngày 01/8/2022, 03/8/2022; số tiền chậm thanh toán là 244.400.000 đồng với thời gian chậm thanh toán là 1 năm 10 tháng 26 ngày (Từ ngày 05/9/2022 đến ngày 31/7/2024). Số tiền lãi do chậm thanh toán là 93.605.200 đồng nhưng Công ty D làm tròn là 93.600.000 đồng.
- Đối với giao nhận hàng lần 02: Số tiền hàng là 513.000.000 đồng, số tiền trả đúng hạn là 0 đồng. Công ty S trả được cho Công ty D số tiền 300.000.000 đồng vào các ngày 11/10/2022, 23/10/2022, 05/01/2023. Thời gian chậm trả và số tiền lãi do chậm thanh toán được tính như sau:
+ Số tiền chậm thanh toán là 513.600.000 đồng với thời gian chậm thanh toán từ ngày 05/9/2022 đến ngày 11/10/2022 là 01 tháng 06 ngày. Số tiền lãi do chậm thanh toán là 10.426.080 đồng.
+ Số tiền chậm thanh toán là 413.600.000 đồng với thời gian chậm thanh toán từ ngày 12/10/2022 đến ngày 23/12/2022 là 02 tháng 11 ngày. Số tiền lãi do chậm thanh toán là 16.544.000 đồng.
+ Số tiền chậm thanh toán là 313.600.000 đồng với thời gian chậm thanh toán từ ngày 24/12/2022 đến ngày 05/01/2023 là 12 ngày. Số tiền lãi do chậm thanh toán là 2.257.920 đồng.
+ Số tiền chậm thanh toán là 213.600.000 đồng với thời gian chậm thanh toán từ ngày 06/01/2023 đến ngày 31/7/2024 là 01 năm 06 tháng 25 ngày. Số tiền lãi do chậm thanh toán là 67.111.560 đồng.
Tổng cộng là: 96.339.560 đồng nhưng Công ty D làm tròn là 96.339.000 đồng.
Tổng cộng số tiền lãi của 02 lần là 189.939.000 đồng.
Tại phiên tòa, ông Đặng Lê C là người đại diện theo pháp luật của Công ty D đề nghị Tòa án giải quyết:
Buộc Công ty S phải thanh toán cho Công ty D số tiền mua bán hàng hóa còn nợ là 458.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi tám triệu đồng).
Buộc Công ty S phải thanh toán cho Công ty D số tiền lãi do chậm thanh toán là 189.939.000 đồng (Một trăm tám mươi chín triệu, chín trăm ba mươi chín nghìn đồng).
Bị đơn là Công ty Cổ phần S: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án; Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho Công ty S nhưng đại diện Công ty S không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn mặc dù đã được thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự (Viết tắt là BLTTDS).
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH D.
Ngoài ra đương sự phải chịu án phí Kinh doanh thương mại theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp thẩm quyền giải quyết: Công ty D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty S phải trả số tiền mua hàng hóa (Dầu Diesel 0,05%S-II) còn thiếu và tiền lãi chậm thanh toán. Nguyên đơn và bị đơn đều có đăng ký kinh doanh, tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại. Căn cứ khoản 1 Điều 30 của BLTTDS; xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Mặc dù tại khoản 10.2 Điều 10 của Hợp đồng mua bán xăng dầu số 04/LA-TA/HĐKT08-2022 ngày 01/8/2022 giữa Công ty D và Công ty Thiên Ân thỏa thuận Tòa án kinh tế Hồ Chí MinS là Tòa án giải quyết khi phát sinh tranh chấp nhưng khi tiến hành các thủ tục khởi kiện thì Công ty D phát hiện thỏa thuận trên là không đúng quy định của của pháp luật tố tụng dân sự. Vì vậy, tại “Bản trình bày về việc lựa chọn Tòa án giải quyết vụ án” ngày 11/01/2024; Công ty D đã khởi kiện tại Tòa án mà Công ty S có trụ sở. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 của BLTTDS; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.
[1.3] Về sự vắng mặt của bị đơn: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng nhưng bị đơn là Công ty S không đến tham gia tố tụng mặc dù đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay, Công ty S vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của BLTTDS; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện trả tiền nợ gốc trong Hợp đồng mua bán hàng hóa của Công ty D; Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1.1] Tại “Hợp đồng mua bán xăng dầu” số 04/LA-TA/HĐKT08-2022 ngày 01/8/2022; Công ty D và Công ty S về việc Công ty D cung cấp dầu Diesel 0,05%S-II cho Công ty S. Hợp đồng các bên đã thỏa thuận tên hàng, số lượng và giá cả; phương thức đặt và giao nhận hàng; phương thức thanh toán; chất lượng và quy cách sản phẩm, trách nhiệm các bên. Giao dịch giữa Công ty D và Công ty S dựa trên tinh thần tự nguyện, có nội dung phù hợp pháp luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với các Điều 24, 34, 35, 37 của Luật Thương mại (Viết tắt là LTM); Hội đồng xét xử nhận định đây là giao dịch hợp pháp, là căn cứ để giải quyết quyền và nghĩa vụ của các bên.
[2.1.2] Theo các tài liệu, chứng cứ Công ty D cung cấp thì sau khi ký Hợp đồng; Công ty S đã nhận đủ số hàng hóa đã đặt mua của 02 đợt là 40.000 lít dầu Diesel 0,05%S-II vào các ngày 03/8/2022 và 05/9/2022 với trị giá tổng cộng là 1.001.000.000 đồng (Đợt 1 là 487.400.000 đồng và đợt 2 là 513.600.000 đồng). Tại mục 5.3.1 khoản 5.3 Điều 5 của Hợp đồng các bên thỏa thuận: “Đối với từng đơn hàng, Công ty S cam kết thanh toán thành 02 đợt. Đợt 1 thanh toán 50% giá trị đơn hàng ngay khi đơn được xác nhận. Đợt 2 thanh toán 50% giá trị còn lại ngay khi đặt đơn hàng kế tiếp nhưng không chậm hơn 07 ngày kể từ ngày thanh toán đợt 1”. Tuy nhiên, Công ty S chỉ thanh toán được số tiền mua hàng của đợt 1 là 243.000.000 đồng vào các ngày 01/8/2022, 03/8/2022 và số tiền mua hàng của đợt 2 là 300.000.000 đồng vào các ngày 11/10/2022, 23/10/2022, 05/01/2023 rồi không trả bất kỳ khoản tiền nào cho Công ty D nữa.
[2.1.3] Như vậy, có cơ sở khẳng định Công ty S không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong Hợp đồng, vi phạm hợp đồng đã ký kết với Công ty D. Công ty S có lỗi nên phải chịu mọi hậu quả phát sinh từ Hợp đồng và theo quy định của pháp luật.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện trả số tiền lãi do chậm thanh toán đối với số tiền gốc mua hàng của Công ty D; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[2.2.1] Tại khoản 5.3.3 Điều 5 của Hợp đồng; Công ty D và Công ty S thỏa thuận: “Trong trường hợp Công ty S không thanh toán cho Công ty D theo đúng thời gian quy định của Hợp đồng thì Công ty S sẽ phải chịu lãi suất là 2%/tháng nhân với số ngày chậm trả”. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Công ty D yêu cầu Công ty S phải thanh toán đối với số tiền lãi do chậm thanh toán đã thỏa thuận nêu trên với mức lãi suất 20%/năm. Xét thấy yêu cầu này của Công ty D là phù hợp với sự thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng, phù hợp với Điều 306 LTM và Điều 468 của Bộ luật dân sự (Viết tắt là BLDS) nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2.2] Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng: Trong 02 đợt mua hàng hóa (Dầu Diesel 0,05%S-II) của Công ty D; Công ty S chỉ trả được số tiền mua hàng đúng hạn là 243.000.000 đồng nên phải trả số tiền lãi do chậm thanh toán cụ thể như sau:
[2.2.2.1] Đối với số tiền mua hàng đợt 1: Tổng số tiền hàng là 487.400.000 đồng, số tiền trả đúng hạn là 243.000.000 đồng, số tiền chậm thanh toán là 244.400.000 đồng với thời gian chậm thanh toán từ ngày 05/9/2022 đến ngày 31/7/2024 là 1 năm 10 tháng 26 ngày. Số tiền lãi do chậm thanh toán là: 244.400.000 x 20%/năm x 1 năm 10 tháng 26 ngày = 93.605.200 đồng nhưng Công ty D làm tròn là 93.600.000 đồng.
[2.2.2.2] Đối với số tiền mua hàng đợt 2: Tổng số tiền hàng là 513.600.000 đồng, Công ty S đã trả cho Công ty D số tiền 100.000.000 đồng vào ngày 11/10/2022, 100.000.000 đồng vào ngày 23/12/2022, 100.000.000 đồng vào ngày 05/01/2023. Như vậy số tiền lãi do chậm thanh toán sẽ được tính như sau:
- Số tiền chậm thanh toán là 513.600.000 đồng với thời gian chậm thanh toán từ ngày 05/9/2022 đến ngày 11/10/2022 là 01 tháng 06 ngày. Số tiền lãi do chậm thanh toán là: 513.600.000 x 20%/năm x 01 tháng 06 ngày = 10.426.080 đồng.
- Số tiền chậm thanh toán là 413.600.000 đồng với thời gian chậm thanh toán từ ngày 12/10/2022 đến ngày 23/12/2022 là 02 tháng 11 ngày. Số tiền lãi do chậm thanh toán là: 413.600.000 x 20%/năm x 02 tháng 11 ngày = 16.544.000 đồng.
- Số tiền chậm thanh toán là 313.600.000 đồng với thời gian chậm thanh toán từ ngày 24/12/2022 đến ngày 05/01/2023 là 12 ngày. Số tiền lãi do chậm thanh toán là: 313.600.000 x 20%/năm x 12 ngày = 2.257.920 đồng.
- Số tiền chậm thanh toán là 213.600.000 đồng với thời gian chậm thanh toán từ ngày 06/01/2023 đến ngày 31/7/2024 là 01 năm 06 tháng 25 ngày. Số tiền lãi do chậm thanh toán là: 213.600.000 x 20%/năm x 01 năm 06 tháng 25 ngày = 67.111.560 đồng.
Tổng cộng là 96.339.560 đồng nhưng Công ty D làm tròn là 96.339.000 đồng.
[2.2.2.3] Như vậy, tổng số tiền lãi do chậm thanh toán Công ty S phải thanh toán cho Công ty D sau 02 đợt mua hàng là: 93.600.000 đồng +96.339.000 đồng = 189.939.000 đồng.
[2.3] Với những phân tích, đánh giá nêu trên; có cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty D; buộc Công ty S phải trả số tiền mua bán hàng hóa còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 31/7/2024) tổng cộng 647.939.000 đồng; trong đó: Số tiền gốc là 458.000.000 đồng; Số tiền lãi do chậm thanh toán là 189.939.000 đồng.
[3] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho Công ty S; có nội dung thể hiện Công ty D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty S phải trả số tiền mua hàng hóa còn nợ bao gồm tiền gốc, số tiền lãi do chậm thanh toán nhưng Công ty S không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không phản đối những tình tiết, sự kiện cũng như những tài liệu, chứng cứ do Công ty D xuất trình nên có cơ sở khẳng định Công ty S đã từ bỏ quyền của mình được pháp luật quy định.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với những nhận định nêu trên, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Công ty D yêu cầu Công ty S trả số tiền 647.939.000 đồng và được Tòa án chấp nhận toàn bộ. Vì vậy, theo quy định tại Điều 147 BLTTDS; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị đơn Công ty S phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm là 29.917.500 đồng (Đã làm tròn).
Công ty D không phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm nên được hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; các Điều 147; 227; 228; 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Các Điều 24, 34, 35, 37, 306 của Luật Thương mại.
Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH D về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” đối với Công ty Cổ phần S.
1. Buộc Công ty Cổ phần S phải thanh toán cho Công ty TNHH D số tiền gốc mua bán xăng dầu và số tiền lãi do chậm thanh toán là 647.939.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi bảy triệu, chín trăm ba mươi chín nghìn đồng); Trong đó: Số tiền gốc là 458.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi tám nghìn đồng), Số tiền lãi do chậm thanh toán là 189.939.000 đồng (Một trăm tám mươi chín triệu, chín trăm ba mươi chín nghìn đồng).
2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 01/8/2024); Công ty Cổ phần S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc theo mức lãi suất Công ty TNHH D và Công ty Cổ phần S thỏa thuận trong Hợp đồng mua bán xăng dầu số 04/LA-TA/HĐKT08-2022 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
3. Về án phí:
3.1. Công ty Cổ phần S phải chịu 29.917.500 đồng (Hai mươi chín triệu, chín trăm mười bảy nghìn, năm trăm đồng) án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm.
3.2. Công ty TNHH D không phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm nên được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 15.718.000 đồng (Mười lăm triệu, bảy trăm mười tám nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000779 ngày 01/02/2024 của Chi cục thi hành dân sự thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai, nguyên đơn có mặt - quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 31/7/2024); bị đơn vắng mặt - quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hồng |
Bản án số 03/2024/KDTM-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 03/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty TNHH Dầu khí LA với Công ty TNHH Thương mại-Dịch vụ-Xây dựng TA
