Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/HS-ST

Ngày: 04-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Quốc Tiến.
  2. Bà Nguyễn Thị Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lợi - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17 tháng 11 năm 2023 và ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Đ xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2023/HSST-QĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023 Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2023/HSST-QĐ ngày 23 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2023/HSST-QĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023 đối với:

* Các bị cáo:

1. Trần Thành T - sinh năm 1984 tại Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT: Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Cao Đài; Trình độ học vấn: 1/12; Nghề nghiệp: Không có; Con ông Trần Thành H - sinh năm 1958 và bà Bùi Thị M - sinh năm 1959 (đã chết); Vợ tên Nguyễn Thị T1 - sinh năm 1989; Có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2007;

Tiền sự: Vào ngày 06/02/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở điều trị nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng;

Tiền án: Có 02 tiền án, năm 2008 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 04 năm tù về tội Cướp tài sản theo Bản án số 15/2008/HSST ngày 11/03/2008, đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa nộp tiền án phí là 50.000 đồng và tiền sung công quỹ nhà nước là 100.000 đồng; năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 22/2013/HSST ngày 24/9/2013, đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa nộp tiền án phí 200.000 đồng.

Về nhân thân: Tại Bản án số 57/2011/HSST ngày 23/11/2011 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Tại Bản án số 76/2014/HSST ngày 19/12/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Tạm giữ: Không; Tạm giam ngày: 18/8/2023;

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ có mặt tại điểm cầu thành phần.

2. Nguyễn Hoàng Anh T2 - sinh ngày 28/10/1999 tại Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT: Số B P, tổ D, khóm A, phường T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không có; Con ông Nguyễn Anh T3 - sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị Ngọc L - sinh năm 1979; Vợ, con: Chưa có;

Tiền sự: Vào ngày 06/02/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở điều trị nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng.

Tiền án: Không.

Tạm giữ: Không; Tạm giam ngày: 18/8/2023;

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ có mặt tại điểm cầu thành phần.

* Bị hại:

1. Anh Nguyễn Minh Hùng Đ - sinh năm 1998; Nơi cư trú: Tổ A, ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

2. Anh Quách Thành C - sinh năm 1973; Nơi cư trú: Ấp D, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị Ngọc M1 - sinh năm 1991; địa chỉ: Khóm C, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

* Người làm chứng:

Ông Trần Thành H - sinh năm 1958; Địa chỉ: Khóm C, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Trần Thành T và Nguyễn Hoàng Anh T2 bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Trần Thành TNguyễn Hoàng Anh T2 là bạn bè quen biết ngoài xã hội cùng ngụ thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên Thành T bàn bạc và rủ Anh T đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân thì Anh T đồng ý.

Vào khoảng 22 giờ ngày 03/01/2023 sau khi cả hai bàn bạc và thống nhất đi tìm tài sản lấy trộm, Trần Thành T đi về nhà ở khóm A, Phường C, thành phố S lấy xe mô tô biển số 66B1-487.05 (xe do ông Trần Thành H là cha ruột Thanh Tài thuê của chị Nguyễn Thị Ngọc M1 để làm phương tiện đi lại). Thành Tài điều khiển xe mô tô chở Anh T đi đến khu vực thành phố C, Thành T vào cửa hàng không rõ tên và địa chỉ cụ thể mua 02 cây kiềm cộng lực (01 cây màu xanh đen dài 20cm, ngang 4,5cm; 01 cây màu trắng bạc dài 45cm, ngang 6cm) đem theo làm công cụ trộm cắp tài sản. Sau đó, Thành T điều khiển xe mô tô đến nhà anh Nguyễn Minh Hùng Đ ngụ ấp A, xã T, huyện C thì thấy có một chuồng sắt bên trong có con rồng Nam M2 trọng lượng 03 kg, chiều dài 1,2 mét, không người trông giữ, Anh T dùng kiềm cộng lực cắt lưới sắt, đồng thời lấy cái bao gần hiện trường bỏ con rồng N vừa trộm được vào bao treo phía sau bên hông xe. Thành Tài chở Anh T tiếp tục tìm tài sản lấy trộm, khi cả hai đến nhà anh Quách T4 Cọp ngụ ấp D, xã M, huyện T thì phát hiện chuồng gà phía trước nhà. Thành Tài đi vào bắt trộm con gà trống lông vàng đỏ trọng lượng 2.9 kg bỏ vào trong áo đang mặc rồi đi ra xe, A T phát hiện cách chuồng gà khoảng 2 mét có bình ác quy hiệu “dongnai” loại 12V-100AH nên lấy trộm, khi ra xe Thành Tài đưa con gà cho Anh T bỏ vào trong áo phía trước cất giấu, bình ắc quy để trên yên xe ở giữa hai người. Đến khoảng 04 giờ 40 phút ngày 04/01/2023 khi Thanh T5 chở Anh T5 đến khu vực ấp B, xã B, huyện C. Lúc này, Công an xã B kết hợp lực lượng Quân sự xã đang tuần tra kiểm soát để đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, thấy có biểu hiện nghi vấn nên tổ tuần tra yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện 01 con rồng Nam Mỹ, 01 con gà trống, 01 bình ắc quy, 02 cây kiềm cộng lực nên tiến hành lập biên bản đồng thời tạm giữ tang vật và vật chứng có liên quan gồm: xe mô tô biển số 66B1-487.05; 01 con rồng Nam Mỹ màu vàng, đen đựng trong bao nylon màu trắng, 01 Bình ắc quy hiệu “dongnai” loại 12V-100AH, 01 con gà trống lông màu vàng đỏ; 02 cây kiềm cộng lực (01 cây màu xanh đen dài 20cm, ngang 4.5cm; 01 cây màu trắng bạc dài 45cm, ngang 6cm).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 11 ngày 27/03/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận:

  • 01 con bỏ sát (Rồng N) màu vàng nâu, chiều dài 1,20 mét, trọng lượng 03kg trị giá 4.733.333 đồng.
  • 01 bình ắc quy hiệu “dongnai” loại 12V-100AH trị giá 443.333 đồng.
  • Một con gà trống có trọng lượng 2.9kg trị giá 377.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản là 5.553.666 đồng (Làm tròn: 5.554.000 đồng).

Cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả lại 01 con rồng Nam Mỹ, màu vàng nâu, chiều dài 1,20 mét, trọng lượng 03kg cho anh Nguyễn Minh Hùng Đ; trao trả lại cho anh Quách Thành C 01 con gà trống, trọng lượng 2,9kg màu vàng đỏ và 01 bình ắc quy hiệu “dongnai” loại 12V-100AH. Sau khi nhận lại tài sản anh Đ và anh C không có yêu cầu gì thêm.

Đối với xe mô tô biển số 66B1-487.05 của chị Nguyễn Thị Ngọc M1 cho ông Trần Thành H thuê làm phương tiện đi lại, chị M1 và ông H không biết T5 dùng làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả lại cho chị M1, đồng thời không xem xét xử lý đối với chị M1 và ông H.

Tại Cáo trạng số 42A/CT-VKSHCL ngày 29/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Trần Thành TNguyễn Hoàng Anh T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

* Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

- Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Thành TNguyễn Hoàng Anh T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về hình phạt:

+ Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Thành T với mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

+ Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T2 với mức án từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tổ tụng hình sự. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh tuyên: Tịch thu tiêu hủy 02 cây kiềm cộng lực (01 cây màu xanh đen dài 20cm, ngang 4,5cm; 01 cây màu trắng bạc dài 45cm, ngang 6cm) là công cụ dùng vào việc phạm tội.

* Các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát và Luận tội của Kiểm sát viên. Các bị cáo không ai tranh luận với quan điểm luận tội của kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Trần Thành TNguyễn Hoàng Anh T2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng số 42A/CT-VKSHCL ngày 29/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là đúng với hành vi của các bị cáo. Lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu nên vào khoảng rạng sáng ngày 04/01/2023, các bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 con rồng nam mỹ của anh Nguyễn Minh Hùng Đ ngụ ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, sau đó các bị cáo tiếp tục lấy trộm 01 con gà trống và 01 bình ắc quy hiệu “dongnai” của anh Quách T4 Cọp ngụ tại ấp D, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Theo kết luận định giá thì các tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt có tổng giá trị là 5.554.000 đồng.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại nơi xảy ra vụ án.

[4] Khi thực hiện tội phạm, các bị cáo đều đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, các bị cáo biết rõ hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì lòng tham, muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài cho thỏa thích bản thân mà không phải bỏ công sức lao động như bao nhiêu người lao động lương thiện trong xã hội nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên, chứng tỏ hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành.

[5] Lời khai nhận tội của các bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận định giá tài sản, vật chứng cùng với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[6] Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Thành TNguyễn Hoàng Anh T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[7] Trong vụ án này, các bị cáo đã cùng tham gia thực hiện tội phạm nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ với nhau, không có sự phân công, bàn bạc, sắp đặt vai trò cụ thể cho nhau và cũng không chịu sự điều khiển của người nào nên đây được xem là dạng đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, xét về hành vi, tính chất, mức độ và hậu quả trong việc phạm tội của từng bị cáo có khác nhau cho nên cần xem xét đối với từng bị cáo.

[8] Đối với bị cáo Trần Thành T là người đã chủ động rủ bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T2 cùng thực hiện tội phạm và đã trực tiếp thực hiện hành vi lén lúc lấy trộm tài sản của các bị hại nên bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T2 mặc dù đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên khi nghe bị cáo Trần Thành T rủ thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên thì bị cáo đồng ý ngay và cùng bị cáo Thành T trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo phải chịu trách nhiệm là đồng phạm với vai trò thực hành trong vụ án. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành một công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[9] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; đối với bị cáo Trần Thành T đã từng bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên xác định hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự, do đó cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Thành T.

[10] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; riêng bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T2 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, cần xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[11] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, các bị hại đã nhận lại tài sản xong và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

[12] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là 02 cây kiềm cộng lực (01 cây màu xanh đen dài 20cm, ngang 4,5cm; 01 cây màu trắng bạc dài 45cm, ngang 6cm) là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[13] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

[14] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát huyện C về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Thành T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2023.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T2 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 02 cây kiềm cộng lực bằng kim loại, đã qua sử dụng (01 cây màu xanh đen dài 20cm, ngang 4,5cm; 01 cây màu trắng bạc dài 45cm, ngang 06cm).

(Vật chứng trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/11/2023).

5. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 21 và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Trần Thành TNguyễn Hoàng Anh T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đối với bị hại và các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Cao Lãnh;
  • - CA huyện Cao Lãnh;
  • - THADS huyện Cao Lãnh;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VPTA & hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Trường Chinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 03/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Trần Thành Tài phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Trần Thành Tài 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger