Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/KDTM-ST

Ngày: 30/7/2024

“V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Huấn
- Các Hội thẩm nhân dân. Bà Trần Thị Hằng;
Bà Trần Thị Thanh Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thị Thu Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2024/TLST-KDTM ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân B1; địa chỉ: Số A, thôn T, xã B, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Hoàng Thị Ngọc B, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Vũ Quang H, sinh năm 1986; chức vụ: cán bộ tín dụng. Theo văn bản ủy quyền ngày 14/3/2024.

Bị đơn: Vợ chồng bà Đỗ Phương T, sinh năm 1973; ông Nguyễn Đức C, sinh năm 1969; địa chỉ: Số A, tổ dân phố Q, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

(ông H có mặt, vợ chồng bà T, ông C vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa của ông Vũ Quang H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thì: Ngày 01/6/2022, bà Đỗ Phương T, ông Nguyễn Đức C có ký hợp đồng vay vốn của Quỹ tín dụng nhân dân B1 (sau đây viết tắt là Quỹ tín dụng) theo Hợp đồng tín dụng số 117/22/LH, để vay số tiền là 1.500.000.000đ; lãi suất 10,5%/năm; lãi suất nợ quá hạn 15,75%/năm; mục đích vay vốn là kinh doanh may mặc; thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Đến ngày 02/6/2022 thì Quỹ tín dụng đã giải ngân cho bà T, ông C số tiền là 1.500.000.000đ.

Để đảm bảo cho khoản vay thì bà T, ông C có thế chấp cho Q tín dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 951698 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 05/11/2018 cho bà Đỗ Phương T, ông Nguyễn Đức C, theo Hợp đồng thế chấp số 47/22/HĐTC, được công chứng tại Phòng C1 ngày 01/6/2022, số công chứng 5608, quyển số 06/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L ngày 02/6/2022.

Quá trình vay vốn khi đến hạn trả nợ thì Quỹ tín dụng đã nhiều lần đôn đốc nhắc nhở và thông báo yêu cầu bà T, ông C trả nợ nhưng không chịu trả. Do đó, Quỹ tín dụng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T, ông C có nghĩa vụ trả cho Q1 tín dụng toàn bộ số tiền nợ gốc là 1.500.000.000đ và tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (30/7/2024) là 382.315.100đ; tổng cộng cả gốc và lãi là 1.882.315.100đ; đồng thời, bà T, ông C còn phải trả số tiền lãi phát sinh được tiếp tục tính cho đến khi trả xong nợ theo mức lãi thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng.

Đồng thời, yêu cầu Tòa án tiếp tục duy trì biện pháp thế chấp tài sản đảm bảo để đảm bảo cho việc thi hành án. Ngoài ra Quỹ tín dụng không yêu cầu gì thêm.

Tại bản tự khai ngày 26/6/2024 bị đơn bà Đỗ Phương T trình bày: Bà là chủ sở hữu Công ty TNHH H1; đồng thời là giám đốc Công ty. Ngày 01/6/2022 bà cùng chồng bà là ông Nguyễn Đức C có ký kết hợp đồng tín dụng với Quỹ tín dụng nhân dân B để vay vốn theo khế ước số 117 ngày 01/6/2022. Số tiền vay là 1.500.000.000đ; lãi suất 10,5%/năm; mục đích vay là để kinh doanh. Khi vay có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 951698 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 05/11/2018 đứng tên bà và ông C. Do trong quá trình vay vốn làm ăn gặp khó khăn sau dịch bệnh nên bà chưa trả nợ cho Quỹ tín dụng được đúng hạn. Nay số tiền còn nợ Quỹ tín dụng tiền gốc là 1.500.000.000đ và tiền lãi hơn 300.000.000đ thì bà đề nghị Quỹ tín dụng tạo điều kiện cho bà cân đối tài chính và sẽ trả cho Q1 tín dụng trong thời hạn khoảng 15 ngày, trường hợp bà không trả được thì đề nghị xử lý theo quy định.

Tại bản tự khai ngày 26/6/2024 bị đơn ông Nguyễn Đức C trình bày: Ông là chồng bà Đỗ Phương T là người đúng tên chủ sử dụng đất cùng với bà T số sổ CO 951698 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 05/11/2018. Vợ chồng ông có ký hồ sơ tín dụng và thế chấp quyền sử dụng đất trên vay vốn của Quỹ tín dụng nhân dân B1 số tiền 1.500.000.000đ. Quá trình làm ăn gặp khó khăn, bản thân ông bị bệnh lâu ngày nên khoản nợ trên chưa trả được đúng hạn. Nay ông thống nhất với ý kiến của vợ ông là bà Đỗ Phương T về việc giải quyết khoản nợ này, ông không có ý kiến gì khác.

Vụ án đã được Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và tổ chức hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng không hòa giải được do vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tòa án, của Hội đồng xét xử và của những người tham gia tố tụng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân B1; buộc bị đơn bà Đỗ Phương T, ông Nguyễn Đức C phải có nghĩa vụ trả cho Q1 tín dụng nhân dân Bình Thạnh số tiền nợ gốc là 1.500.000.000đ và tiền lãi tính đến ngày 30/7/2024 là 382.315.100đ, trong đó lãi trong hạn là 107.876.712đ và lãi quá hạn là 274.438.357đ. Tổng cộng cả gốc và lãi là 1.882.315.100đ.

Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 47/22/HĐTC, được công chứng tại Phòng C1 ngày 01/6/2022, số công chứng 5608, quyển số 06/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L ngày 02/6/2022 giữa bà T, ông C với Quỹ tín dụng nhân dân B1 đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 951698 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 05/11/2018, thửa đất số 1/506, tờ bản đồ 68, diện tích 872,7m², đất tọa lạc tại thị trấn Đinh Văn huyện L cho bà Đỗ Phương T, ông Nguyễn Đức C cho đến khi bà T, ông C thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Quỹ tín dụng.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua các chứng cứ, tài liệu được thể hiện trong hồ sơ và kết quả thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà bị đơn bà Đỗ Phương T, ông Nguyễn Đức C vắng mặt và có đề đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vắng mặt bị đơn bà T, ông C theo thủ tục chung là phù hợp.

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xuất phát từ việc bà T, ông C có ký kết hợp đồng với Quỹ tín dụng để vay vốn. Theo đó Quỹ tín d đã cho bà T, ông C vay số tiền là 1.5000.000đ, mục đích vay là để kinh doanh hàng may mặc do bà T làm giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Để đảm bảo cho khoản vay trên hai bên có lập hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất của bà T, ông C. Do đến hạn trả nợ gốc và nợ lãi bà T, ông C không thực hiện đúng như nghĩa vụ đã cam kết mà để nợ gốc và nợ lãi quá hạn. Vì vậy, Quỹ tín dụng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà T, ông C phải trả nợ gốc và nợ lãi; đồng thời, yêu cầu tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp tài sản để đảm bảo cho việc thi hành án. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là vụ án kinh doanh thương mại về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung tranh chấp: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện vào ngày 01/6/2022, bà Đỗ Phương T, ông Nguyễn Đức C có ký hợp đồng tín dụng số 117/22/LH để vay của Quỹ tín dụng số tiền là 1.500.000.000đ; lãi suất 10,5%/năm; lãi suất nợ quá hạn 15,75%/năm; mục đích vay vốn là kinh doanh may mặc; thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Đến ngày 02/6/2022 thì Quỹ tín dụng đã giải ngân cho bà T, ông C số tiền là 1.500.000.000đ.

Xét thấy, việc bà T, ông C vay vốn của Quỹ Tín dụng là có xảy ra trên thực tế, việc hai bên ký kết hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Quá trình vay vốn thì bà T, ông C đã trả được lãi cho Q1 tính dụng đến ngày 25/9/2022 sau đó thì không thực hiện đúng như nghĩa vụ đã cam kết mà để nợ gốc và nợ lãi quá hạn. Đồng thời, cũng không đồng ý bàn giao tài sản thế chấp để Quỹ tín dụng xử lý thu hồi nợ là vi phạm nghĩa vụ. Do đó, Quỹ tín dụng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà T, ông C phải có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc vay 1.500.000.000₫ là có cơ sở để chấp nhận.

[3.1] Đối với yêu cầu của Quỹ tín dụng về việc yêu cầu bà T, ông C phải trả lãi cho quỹ tín dụng với số tiền là 382.315.100đ kể từ ngày 25/9/2022 cho đến ngày 30/7/2024 ngày xét xử sơ thẩm (trong đó lãi trong hạn 107.876.712đ, lãi quá hạn 274.438.357đ). Hội đồng xét xử xét thấy mức lãi suất mà Quỹ tín dụng yêu cầu là dựa trên cơ sở thỏa thuận giữa hai bên theo hợp đồng tín dụng đã ký kết và phù hợp với quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự, phù hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (nay là Điều 99, Điều 100 và Điều 103 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024). Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của Quỹ tín dụng về việc yêu cầu bà T, ông C phải trả lãi theo hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký kết tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 382.315.100đ là phù hợp. Đồng thời, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà T, ông C còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận mà hai bên đã ký kết trong hợp đồng cho đến khi bà T, ông C trả hết số tiền nợ gốc cho quỹ tín dụng.

[3.2] Đối với việc Quỹ tín dụng yêu cầu Hội đồng xét xử tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa bà T, ông C với Quỹ tín dụng đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 47/22/HĐTC, được công chứng tại Phòng C1 ngày 01/6/2022, số công chứng 5608, quyển số 06/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L ngày 02/6/2022 để đảm bảo cho việc thi hành án. Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc các bên ký kết các hợp đồng thế chấp là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội và các hợp đồng thế chấp này đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật nên Quỹ tín dụng yêu cầu tiếp tục duy trì các hợp đồng thế chấp là có cơ sở đế chấp nhận.

[4] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn quỹ tín dụng nên buộc bị đơn bà T, ông C phải chịu án phí kinh doanh thương sơ thẩm là 68.469.453₫ (800.000.000₫ = 36.000.000đ phần vượt quá 800.000.000₫ x 3%). Hoàn trả cho Quỹ tín dụng số tiền tạm ứng án phí đã tạm nộp.

[5] Về chi phí tố tụng: Xét thấy việc xem xét thẩm định tại chỗ là cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã nộp tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản là 1.500.000đ (đã được quyết toán xong). Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn bà T, ông C phải hoàn trả lại cho nguyên đơn Quỹ tính dụng nhân dân B số tiền 1.500.000đ tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147; 157; 227, 228; 235 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân B1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với bị đơn bà Đỗ Phương T, ông Nguyễn Đức C.
    1. Buộc bà Đỗ Phương T, ông Nguyễn Đức C phải có nghĩa vụ trả cho Q1 tín dụng nhân dân Bình Thạnh số tiền nợ gốc là 1.500.000.000đ, tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (30/7/2024) là 382.315.100đ; tổng cộng cả gốc và lãi là 1.882.315.100đ (một tỷ tám trăm tám mươi hai triệu, ba trăm mười lăm nghìn, một trăm đồng). Đồng thời, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm còn phải tiếp tục chịu lãi theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 117/22/LH ngày 01/6/2022 đã ký kết giữa bà Đỗ Phương T, ông Nguyễn Đức C với Quỹ tín dụng nhân dân B1 trên số tiền nợ gốc chưa trả, cho đến khi trả xong khoản nợ gốc cho Quỹ tín dụng nhân dân B1.
    2. Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số số 47/22/HĐTC, được công chứng tại Phòng C1 ngày 01/6/2022, số công chứng 5608, quyển số 06/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L ngày 02/6/2022 đối với diện tích đất tích 872,7m² thuộc một phần thửa 506, tờ bản đồ 68 thị trấn Đinh Văn huyện L theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 951698 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 05/11/2018 cho bà Đỗ Phương T, ông Nguyễn Đức C cho đến khi bà Đỗ Phương T, ông Nguyễn Đức C trả xong số tiền nợ gốc và nợ lãi cho Quỹ tín dụng nhân dân B1.
  2. Về án phí: Buộc bà Đỗ Phương T, ông Nguyễn Đức C phải chịu 68.469.453đ (sáu mười tám triệu, bốn trăm sáu chín nghìn, bốn trăm năm mươi ba đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả cho Quỹ tín dụng nhân dân Bình Thạnh 32.826.000đ (ba mươi hai triệu tám trăm hai mươi sáu nghìn đồng) tạm ứng án phí đã tạm nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004572 ngày 28/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
  3. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Đỗ Phương T, ông Nguyễn Đức C phải hoàn trả lại cho Quỹ tín dụng nhân dân B số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng).

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/7/2024) nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - VKS nhân dân huyện Lâm Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Huấn

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Luân - Phạm Ngọc Diện

Trần Minh Huấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/KDTM-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 03/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quỹ tín dụng Bình Thạnh - Thảo Chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger