Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

----------

Bản án số: 03/2024/HSPT-CTN

Ngày 30-05-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

----------

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Thưởng và bà Đinh Thị Như Phượng

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Chiến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hòa - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 30 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Gia tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 06/2024/TLPT-HS-CTN ngày 17 tháng 04 năm 2024 đối với bị cáo Lê Thị Lệ M do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2024/HSST ngày 13/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kbang.

1. Bị cáo có kháng cáo:

-Lê Thị Lệ M, sinh ngày 21/6/2006 tại: K, Gia Lai; nơi thường trú: Thôn B, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 8/12; con ông Lê Văn B, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1978; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lê Thị Lệ M: Ông Lê Văn B, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai.(Có mặt)

2. Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị Lệ M:

Ông Nguyễn Công T - Trợ giúp viên thuộc Trung tâm Trợ giúp Pháp lý Nhà Nước tỉnh G. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 05/11/2023, Lê Thị Lệ M điều khiển xe mô tô BKS 81H5-1080, nhãn hiệu Wazelet của gia đình đi chơi. Khi đi đến đoạn đường bê tông liên huyện thuộc địa giới hành chính thôn C, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai thì M thấy có 02 con bò (một con bò đực, lông màu trắng mốc và một con bò đực, lông màu đỏ) của anh Nguyễn Thành N đang cột cho ăn cỏ bên đường. M quan sát xung quanh thấy không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp 02 con bò này để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sau đó, M gọi điện thoại cho anh Nguyễn Văn T1, trú tại xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai là người mua bán bò (do trước đây mẹ của M đã sử dụng máy điện thoại của M để gọi anh T1 đến nhà bán bò nên có lưu tên và số anh T1 trong điện thoại của Mỹ), M nói dối với anh T1 là có bò muốn bán. Khi nghe điện thoại của M thì anh T1 nhận lời đến xem bò để mua, M chỉ đường cho anh T1 đến vị trí 02 con bò đang cột cho ăn mà M đang đứng chờ ở đó. Anh T1 đi xe mô tô đến nơi hỏi Mỹ 02 con bò này là của ai thì M nói dối là bò của chú P (chú của Mỹ) nhờ Mỹ chăm sóc và bán dùm, vì chú đánh bạc bị Công an bắt. Anh T1 tin tưởng, xem bò và hỏi M bán con bò nào? M chỉ vào con bò lông màu trắng mốc và nói bán với giá 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Anh T1 nói với M là giá bò hiện nay đang rẻ nên chỉ mua với giá 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng). Nghe vậy, M đồng ý bán con bò đó với giá 2.500.000 đồng, anh T1 đưa tiền cho M và nói M chờ để anh T1 đi về nhà lấy xe ô tô đến chở bò nên M đứng ở đó đợi. Anh T1 về nhà lấy xe ô tô BKS 67M-2751 đến rồi dắt con bò đã mua lên xe ô tô. Sau khi dắt con bò lên xe ô tô xong, anh T1 nói với M là: “Con bò còn lại khi nào bán gọi anh”, M hỏi lại là con bò đó mua với giá bao nhiêu? Anh T1 nói giá 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Nghe vậy, M đồng ý bán luôn con bò còn lại nên anh T1 đến tháo dây và dắt con bò lên xe ô tô. Sau khi dắt bò lên xe xong, anh T1 nghi ngờ M bán bò có nguồn gốc không rõ ràng nên yêu câu M gọi điện thoại cho người thân của chủ bò đến thì M giả vờ bấm số điện thoại rồi trả lời là không liên lạc được. Trong khi anh T1 đang đứng đợi M gọi điện thoại thì anh Nguyễn Thành N là chủ sở hữu của 02 con bò nêu trên đến phát hiện sự việc. Sau đó, anh T1 cùng anh N đã trình báo sự việc đến Công an xã Đ, huyện K giải quyết. Quá trình xác minh, Công an xã Đ đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện K để giải quyết theo quy định pháp luật.

Ngày 24/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã có yêu cầu định giá tài sản số: 259/YC-ĐGTS, định giá đối với 02 con bò nêu trên. Tại Kết luận định giá tài sản số: 28/KL-HĐĐG ngày 30/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K đã kết luận: Tổng giá trị của 02 con bò là 24.700.000 đồng (hai mươi bốn triệu bảy trăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã tạm giữ và xử lý vật chứng như sau:

  • - Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo A3s, màu xanh. Quá trình điều tra xác định đây là phương tiện mà Lê Thị Lệ M sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện K tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
  • - Đối với chiếc xe mô tô BKS 81H5-1080, nhãn hiệu Wazelet, qua điều tra xác định đây là tài sản của ông Lê Văn B là cha ruột của M. Ngày 05/11/2023, ông B để chiếc xe này ở nhà thì M tự ý lấy xe đi thực hiện hành vi phạm tội, ông B hoàn toàn không biết nên Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe này cho ông B.
  • - Đối với chiếc xe ô tô BKS 67M-2751, nhãn hiệu KIA, màu sơn xanh và số tiền 2.500.000 đồng, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của anh Nguyễn Văn T1 nên Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã xử lý vật chứng trả lại cho anh T1 các tài sản này.
  • - Đối với 02 con bò là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Thành N nên Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã xử lý vật chứng trả lại cho anh N tài sản này.

Tại Bản cáo trạng số: 02/CT-VKS ngày 02/02/2024, VKSND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai đã truy tố Lê Thị Lệ M về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2024/HSST ngày 13/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kbang đã quyết định:

  • -Về tội danh :Tuyên bố bị cáo Lê Thị Lệ M phạm tội: “Trộm cắp tài sản".
  • - Về điều luật áp dụng và hình phạt:
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 90, 91 và 101 của Bộ luật hình sự;
  • + Xử phạt bị cáo Lê Thị Lệ M 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án;

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về dân sự; xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí; quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định pháp luật.

3. Kháng cáo của bị cáo Lê Thị Lệ M:

Ngày 18-03-2024 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm, bị cáo thấy hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Sau khi phân tích hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các tình tiết mới bị cáo nộp tại giai đoạn phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về giảm nhẹ hình phạt, chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo; xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án. Bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo Lê Thị Lệ M là ông Nguyễn Công T trình bày: Bị cáo đã ăn năn hối cải, bị cáo có nơi ở ổn định, phạm tội ít nghiêm trọng, nhân thân tốt, bị cáo cung cấp thêm một số tài liệu mới như đơn xin giảm nhẹ hình phạt, Đơn xin xác nhận hoàn cảnh khó khăn, Huân chương kháng chiến của ông nội, bà nội bị cáo. Vì vậy, xin Hội đồng xét xử phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin được hưởng án treo.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Thị Lệ M xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội như Cáo trạng và Bản án sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người làm chứng, bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:

Ngày 5-11-2022, khi đang điều khiển xe mô tô đến đoạn đường thuộc thôn C, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai bị cáo M thấy bên đường có cột hai con bò (một màu trắng mốc, một màu nâu đỏ) mà không có người trông giữ nên đã nảy sinh ý định trộm bò để lấy tiền tiêu sài. Nghĩ vậy, bị cáo đã điện thoại cho ông Nguyễn Văn T1 là người chuyên thu mua bò (bị cáo biết ông T1 là người thu mua bò vì mẹ bị cáo đã dùng điện thoại của bị cáo điện cho ông T1 để bán bò). Khi ông T1 đến xem bò bị cáo nói dối là bò của chú P (chú của Mỹ) nhờ Mỹ chăm sóc và bán dùm, vì chú đánh bạc bị Công an bắt rồi bị cáo ra giá bán con bò màu trắng mốc với giá 5.000.000 đồng thì ông T1 không đồng ý mà chỉ mua với giá 2.500.000 đồng thì bị cáo đồng ý. Thấy vậy, ông T1 nói khi nào có nhu câu bán con bò màu nâu đỏ thì gọi cho ông thì bị cáo đồng ý bán luôn con bò này với giá 2.000.000 đồng. Nghi ngờ về nguồn gốc của hai con bò ông T1 yêu cầu bị cáo điện cho chủ bò thì bị cáo giả vờ điện thoại và nói là chủ bò không bắt máy. Lúc này ông Nguyễn Thành N chủ của hai con bò phát hiện sự việc nên đã cùng ông T1 trình báo công an về hành vi của bị cáo.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 28/KL-HĐĐG ngày 30/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K đã kết luận tổng giá trị của 02 con bò là 24.700.000 đồng

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm các cứ vào các quy định của pháp luật xét xử bị cáo Lê Thị Lệ M 6 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật.

[2] Về kháng cáo của bị cáo thấy rằng:

2.1. Kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Lê Thị Lệ M kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt với lý do hình phạt nêu trên là quá nghiêm khắc, không đánh giá toàn diện các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm khi lượng hình đã xem xét đầy đủ, toàn diện các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân cũng như độ tuổi khi bị cáo phạm tội của bị cáo. Việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải chịu hình phạt 6 tháng tù giam là ở mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự nên kháng cáo yêu cầu xin giảm nhẹ của bị cáo không có căn cứ để chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không chấp nhận yêu cầu này của bị cáo.

2.2. Kháng cáo xin được hưởng án treo:

Thấy rằng, Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo có nộp thêm một số tài liệu:

Đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị hại là ông Nguyễn Thành N, Đơn xin xác nhận hoàn ảnh gia đình khó khăn có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Đ; Huân chương kháng chiến của ông Lê Văn N1 (ông nội bị cáo); xác nhận khen thưởng của huyện Q, tỉnh Nghệ An về việc bà Hồ Thị Đ (bà nội bị cáo) được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạn ba.

Xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và phạm tội chưa gây thiệt hại; bị cáo khi phạm tội còn đang ở độ tuổi vị thành niên nhận thức pháp luật còn hạn chế nên khi lượng hình cần áp dụng chế định của người chưa thành niên cho bị cáo M. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo còn cung cấp thêm một số tài liệu, chứng cứ mới đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, để thể hiện tính nhân đạo và khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử thấy rằng không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo cải tạo tại chỗ dưới sự giám sát, giáo dục của địa phương và gia đình mà không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội cũng đủ răng đe phòng ngừa tội phạm đồng thời cũng tạo điều kiện cho bị cáo làm việc phụ giúp cha mẹ nuôi các em ăn học. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về giảm nhẹ hình phạt, chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo sửa bản án sơ thẩm.

Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Điều luật áp dụng:
    • - Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 90, Điều 91 và Điều 101của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Thị Lệ M.
    • - Căn cứ Điều 136 của BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  2. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Lê Thị Lệ M. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2024/HSST ngày 13/3/2024 của Tòa án nhân huyện K về biện pháp chấp hành hình phạt.
    • - Tuyên bố bị cáo Lê Thị Lệ M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • - Xử phạt bị cáo Lê Thị Lệ M 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 30-05-2024).

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về án phí: Bị cáo Lê Thị Lệ M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Gia Lai;
  • -Công an tỉnh Gia Lai;
  • -Sở tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • -TAND huyện Kbang;
  • - Chi cục THADS huyện K;
  • - Bị cáo
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VT; HSVA và Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Sỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/HSPT-CTN ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 03/2024/HSPT-CTN
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm bò
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger