Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/KDTM-ST

Ngày: 23-4-2024.

“V/v tranh chấp về kinh doanh, thương

mại hợp đồng mua bán tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Trinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Phú Hữu.
  2. Bà Lê Thị Duy Linh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Phan Minh Trí - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.

Trong ngày 23/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 01/2024/TLST-KDTM ngày 08/01/2024 về việc “tranh chấp về kinh doanh, thương mại - hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST-KDTM ngày 19/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 91/2024/QÐST-KDTM ngày 03/4/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm: 1962 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân L1; Địa chỉ: Số B, đường C, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
  • Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Tấn P: Ông Nguyễn Tý H, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số B, Quốc lộ C, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
  • - Bị đơn: Công ty TNHH một thành viên L2.
  • Địa chỉ: Số C, đường Ô, Tổ E, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
  • Người đại diện theo pháp luật của Công ty: Bà Trần Ngọc L, sinh năm: 1976, Chức vụ: Chủ tịch công ty K Giám đốc; Địa chỉ: Số B, đường T, Phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
  • (Ông H có mặt; bà L vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Nguyễn Tý H đại diện ông Nguyễn Tấn P - Chủ Doanh nghiệp tư nhân L1 trình bày:

Ngày 01/5/2020, Công ty TNHH một thành viên L2 và Doanh nghiệp tư nhân L1 có ký kết hợp đồng mua bán xăng dầu với nhau. Căn cứ vào hợp đồng, hai bên đã tiến hành việc mua bán xăng dầu và thanh toán, cụ thể như sau:

Từ ngày 26/5/2023 đến ngày 29/8/2023, Công ty TNHH một thành viên L2 đã mua xăng dầu của Doanh nghiệp tư nhân L1 tổng cộng 45 đợt với số tiền là 59.500.000 đồng, thỏa thuận thanh toán vào ngày 25 hàng tháng và không quá 10 ngày kể từ ngày đến hạn.

Ngày 18/7/2023, Công ty TNHH MTV L2 đã thanh toán cho ông P số tiền 17.867.900 đồng, bằng hình thức chuyển khoản.

Từ đó đến nay, Công ty TNHH một thành viên L2 không thanh toán cho Doanh nghiệp tư nhân L1 thêm bất kỳ số tiền nào nữa. Đến thời điểm này, Công ty TNHH một thành viên L2 còn nợ Doanh nghiệp tư nhân L1 tính đến ngày 31/8/2023 là 41.632.000 đồng.

Trong thời gian qua, Doanh nghiệp tư nhân L1 đã nhiều lần đến gặp mặt để yêu cầu Công ty TNHH một thành viên L2, thanh toán dứt điểm số nợ còn thiếu cho Doanh nghiệp tư nhân L1, nhưng Công ty TNHH một thành viên L2 vẫn không chịu thanh toán dứt điểm cho Doanh nghiệp tư nhân L1, việc không thanh toán tiền hàng của các khách hàng như Công ty TNHH một thành viên L2 khiến cho Doanh nghiệp tư nhân L1 gặp hết sức khó khăn về vốn để tái sản xuất, trả lương nhân viên cũng như trả lãi hàng tháng cho ngân hàng.

Tại đơn khởi kiện, ông Nguyễn Tấn P - Chủ Doanh nghiệp tư nhân L1 yêu cầu Công ty TNHH một thành viên L2 phải trả cho Doanh nghiệp tư nhân L1 số tiền nợ gốc và lãi tính từ ngày 08/9/2023 đến ngày 19/9/2023 là 41.757.466 đồng (Bốn mươi mốt triệu, bảy trăm năm mươi bảy nghìn, bốn trăm sáu mươi sáu đồng) và yêu cầu tính lãi từ ngày 20/9/2023 với lãi suất 10%/năm cho đến khi xét xử xong vụ án.

Tại phiên tòa, ông Nguyễn Tý H đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Tấn P - Chủ Doanh nghiệp tư nhân L1 yêu cầu Công ty TNHH một thành viên L2 phải trả cho ông Nguyễn Tấn P - Chủ Doanh nghiệp tư nhân L1 số tiền nợ gốc 41.632.000 đồng, không yêu cầu tính lãi đến ngày xét xử nhưng yêu cầu tính lãi từ khi bản án có hiệu lực cho đến khi trả xong số nợ.

Quá trình giải quyết vụ án Trần Ngọc L đại diện Công ty TNHH một thành viên L2 trình bày:

Bà T có cung cấp cho Tòa án bản photo tin nhắn zalo giữa bà L đại diện Công ty TNHH một thành viên L2 với ông P - Chủ Doanh nghiệp tư nhân L1, nội dung tin nhắn thể hiện bà T yêu cầu ông P điều chỉnh địa chỉ của Công ty trong hợp đồng là Địa chỉ: Số C, đường Ô, Tổ E, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp và hóa đơn bán lẻ ngày 27/8/2023, có nội dung Công ty TNHH một thành viên L2 mua của Chi nhánh DNTN Lộc Nhàn từ tháng 6 - 27/8/2023 tổng số tiền là 40.822.100 đồng. Tuy nhiên, bà L không có mặt tại Tòa án và tại phiên tòa để trình bày nội dung vụ việc và đối chất với L1 về số nợ xăng còn thiếu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ theo đơn khởi kiện của ông Phước C Doanh nghiệp tư nhân L1 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hợp đồng kinh doanh thương mại – hợp đồng mua bán hàng hóa giữa cá nhân có đăng ký kinh doanh với doanh nghiệp và đều có mục đích lợi nhuận; hợp đồng ký kết và thực hiện tại thành phố C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tư cách đương sự: Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động doanh nghiệp số 1400590997 ngày 31/01/2007 thì Doanh nghiệp tư nhân L1 và Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động Chi nhánh số 1400590997-001 ngày 19/6/2009 thì Chi nhánh Doanh nghiệp tư nhân L1 đều do ông Nguyễn Tấn P là chủ doanh nghiệp và là người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp có đơn khởi kiện nên là nguyên đơn của vụ án.

Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 140 2015142 ngày 25/6/2015 thì Công ty TNHH một thành viên L2 do bà Trần Ngọc L - Chức danh Chủ tịch công ty kiêm Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty và Công ty vẫn còn tồn tại trên cơ sở dữ liệu Quốc gia về đăng ký Doanh nghiệp. Do đó, Công ty TNHH một thành viên L2 do bà Trần Ngọc L - Chức danh Chủ tịch công ty kiêm Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty là người bị kiện nên tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn.

Về sự có mặt của đương sự: Bà Trần Ngọc L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tấn P - Chủ Doanh nghiệp tư nhân L1 yêu cầu Công ty TNHH một thành viên L2 phải trả cho ông Nguyễn Tấn P - Chủ Doanh nghiệp tư nhân L1 số tiền nợ gốc 41.632.000 đồng, không yêu cầu tính lãi đến ngày xét xử nhưng yêu cầu tính lãi từ khi bản án có hiệu lực cho đến khi trả xong số nợ.

Căn cứ hợp đồng mua bán xăng dầu không ngày tháng năm do bên A là ông Nguyễn Tấn P - Chủ Chi nhánh Doanh nghiệp tư nhân L1 ký kết với bên B là Công ty TNHH một thành viên L2 do bà Trần Ngọc L làm đại diện. Theo đó, bên A cấp phiếu nhận xăng dầu cho bên B, bên B căn cứ vào nhu cầu của đơn vị ghi vào phiếu đúng chủng loại, số lượng xăng dầu xuất hàng tại Chi nhánh Doanh nghiệp tư nhân L1; bên A căn cứ phiếu nhận xăng dầu sẽ cung cấp cho bên B và giữ lại phiếu để quyết toán với bên B.

Căn cứ vào các biên nhận thể hiện bên B nhận xăng dầu từ ngày 26/5/2023 đến 29/8/2023, có người nhận hàng ký tên và căn cứ vào hóa đơn bán lẻ ngày 31/8//2023 thể hiện Công ty TNHH một thành viên L2 còn nợ Chi nhánh Doanh nghiệp tư nhân L1 số tiền 41.632.000 đồng. Bà L đại diện Công ty TNHH một thành viên L2 có cung cấp hóa đơn bán lẻ ngày 27/8/2023 thể hiện Công ty TNHH một thành viên L2 còn nợ Chi nhánh Doanh nghiệp tư nhân L1 số tiền 40.822.100 đồng; nguyên đơn thừa nhận có hóa đơn bán lẻ ngày 27/8/2023 và hai bên thống nhất hóa đơn này nhưng đây không phải là hóa đơn cuối cùng mà đến ngày 31/8/2023 hai bên chốt hóa hóa đơn. Hội đồng xét xử xét thấy, từ ngày 27/8/2023 đến ngày 31/8/2023, bên B có ký vào biên nhận ngày 29/8/2023 có nhận dầu cho xe biển kiểm soát 66H01180, số tiền 810.000 đồng, phù hợp với hóa đơn ngày 31/8//2023, số tiền 41.632.000 đồng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ và lời trình bày của các bên đương sự nên chấp nhận, buộc Công ty TNHH một thành viên L2 có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Tấn P - Chủ Chi nhánh Doanh nghiệp tư nhân L1 số tiền nợ xăng dầu còn thiếu là 41.632.000 đồng.

[3] Xét tiền lãi: Tại phiên tòa, ông Nguyễn Tý H đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Tấn P - Chủ Doanh nghiệp tư nhân L1 không yêu cầu tính lãi đến ngày xét xử sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự; các Điều 278, 280, 353, 357, 385, 430, 431, 440, 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 24, 50 của Luật Thương mại; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tấn P - Chủ Doanh nghiệp tư nhân L1.

Buộc Công ty TNHH một thành viên L2 có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Tấn P - Chủ Doanh nghiệp tư nhân L1 số tiền nợ xăng dầu còn thiếu là 41.632.000 đồng.

Kể từ có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Buộc Công ty TNHH một thành viên L2 phải chịu 3.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Ông Nguyễn Tấn P - Chủ Doanh nghiệp tư nhân L1 được nhận lại số tiền 1.044.000 đồng theo biên lai tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000250 ngày 04/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 - Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh ĐT;
  • - VKSND TPCL;
  • - Chi cục THADS TPCL;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Cẩm Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/KDTM-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về kinh doanh, thương mại hợp đồng mua bán tài sản

  • Số bản án: 03/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về kinh doanh, thương mại hợp đồng mua bán tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp về kinh doanh, thương mại hợp đồng mua bán tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger