Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BA ĐỒN

TỈNH QUẢNG BÌNH

Bản án số: 03/2024/KDTM-ST

Ngày: 22 - 8 - 2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phan Hải Phú
  2. Ông Nguyễn Duy Phú

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Như Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số: 03/2024/TLST- KDTM ngày 13/6/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST-KDTM ngày 29/7/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C.
  2. Địa chỉ: Số A T, quận H, thành phố Hà Nội

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B - Chủ tịch Hội đồng quản trị.

    Người đại diện theo ủy quyền:

    Ông Nguyễn Trung T - Phó Phòng tổng hợp Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh Quảng Bình

    Địa chỉ: Số 50, đường Lý Thường Kiệt, Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.

  3. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Phương H, sinh năm 1971 và ông Nguyễn Phúc N, sinh năm 1971
  4. Cùng trú tại: Tổ dân phố Đ, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình.

    Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 25/4/2024, bản tự khai, quá trình hòa giải và tại phiên toà, người đại diện nguyên đơn trình bày:

Nguyễn Thị Phương H và ông Nguyễn Phúc N đã ký với Ngân hàng TMCP C- Chi nhánh Q1 - P Hợp đồng cho vay hạn mức số [...]/2018-HĐCVHM/NHCT470 ngày 16/11/2018 để vay và rút vốn số tiền 2.800.000.000 đồng; thời hạn duy trì hạn mức: 12 tháng; thời hạn cho vay theo từng giấy nhận nợ nhưng tối đa không quá 10 tháng; mục đích: Bổ sung vốn kinh doanh dược phẩm; Kỳ hạn trả lãi 01 tháng/kỳ vào ngày 24, gốc trả cuối kỳ; Lãi suất cho vay áp dụng lãi suất thả nổi theo từng giấy nhận nợ.

Để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của mình bà Nguyễn Thị Phương H và ông Nguyễn Phúc N đã sử dụng các tài sản sau để thế chấp tại Ngân hàng, cụ thể:

Tài sản 1: Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 471, tờ bản đồ số 01, diện tích 194m² tại thôn C, xã Q, huyện Q (N là tổ dân phố C, phường Q, thị xã B), tỉnh Quảng Bình) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AI 921804, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00119 do UBND huyện Q (Nay là UBND thị xã B), tỉnh Quảng Bình cấp ngày 19/9/2007 mang tên bà Nguyễn Thị Phương H và ông Nguyễn Phúc N theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 470-024-130-140019/HĐTC ngày 03/7/2014. Việc thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế chấp tài sản đã đăng ký tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị trấn B, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (Nay là Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã B, tỉnh Quảng Bình) ngày 04/7/2014. Tổng giá trị tài sản được định giá: 180.000.000 đồng.

Tài sản 2: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 683, tờ bản đồ số 02, diện tích 179m² tại xóm C, xã Q, huyện Q (N là tổ dân phố Đ, phường Q, thị xã B), tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 372624, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH 02609 do UBND huyện Q (Nay là UBND thị xã B), tỉnh Quảng Bình cấp ngày 06/3/2014 mang tên bà Nguyễn Thị Phương H và ông Nguyễn Phúc N theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 470-024-130-140004/HĐTC ngày 11/03/2014 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 470-024-130-140004/HĐTCBS ngày 28/01/2014; Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 470-024-130-140004/HĐTCBS02 ngày 16/01/2018. Việc thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế chấp tài sản đã đăng ký tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị trấn B, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (Nay là Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã B, tỉnh Quảng Bình) ngày 13/3/2013. Tổng giá trị tài sản được định giá: 1.723.180.000 đồng.

Tuy nhiên, ngày 20/8/2019 bà Nguyễn Thị Phương H và ông Nguyễn Phúc N đã trả số tiền gốc 1.300.000.000 đồng và tiền lãi 89.945.205 đồng và xin rút 02 tài sản thế chấp nói trên.

Ngoài hai tài sản nói trên bà H và ông N còn thế chấp 01 tài sản khác, nhưng Ngân hàng không yêu cầu Tòa án xem xét xử lý.

Trong quá trình quan hệ tín dụng tại Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh Q1, bà Nguyễn Thị Phương H và ông Nguyễn Phúc N đã không thực hiện đúng các thỏa thuận, cam kết tại Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh Q1 và để phát sinh nợ quá hạn kể từ ngày 25/9/2019.

Sau khi chuyển nợ quá hạn, Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh Q1 đã đôn đốc, tạo điều kiện để bà H, ông N thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng bà H, ông N vẫn không thực hiện được. Do đó, Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh Q1 thực hiện thủ tục khởi kiện đến Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn để yêu cầu Tòa án buộc bà H, ông N có nghĩa vụ thanh toán ngay cho Ngân hàng TMCP C toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn theo Hợp đồng cho vay hạn mức số [...]/2018-HĐCVHM/NHCT470 ngày 16/11/2018.

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Phương H và ông Nguyễn Phúc N phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP C số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 22/8/2024 là 2.497.913.837 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 1.500.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 667.434.382 đồng; Nợ lãi quá hạn: 330.479.455 đồng) và số tiền lãi phát sinh đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ.

Quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai, bị đơn bà Nguyễn Thị Phương H và ông Nguyễn Phúc N thống nhất trình bày:

Ông, bà nhất trí như ý kiến phía Nguyên đơn trình bày về quá trình vay nợ và thế chấp tài sản mà ông, bà đã ký kết với Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh Q1. Hiện tính đến ngày 22/8/2024, ông, bà còn nợ Ngân hàng số tiền là 2.497.913.837 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 1.500.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 667.434.382 đồng; Nợ lãi quá hạn: 330.479.455 đồng).

Tuy nhiên, hiện nay điều kiện làm ăn kinh tế của gia đình còn khó khăn nên ông, bà không đủ khả năng để thanh toán toàn bộ số nợ nói trên cho Ngân hàng và yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:
    1. Về quan hệ pháp luật:
    2. Tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP C và bà Nguyễn Thị Phương H, ông Nguyễn Phúc Nguyên phát s từ việc thực hiện Hợp đồng cho vay hạn mức số [...]/2018-HĐCVHM/NHCT470 ngày 16/11/2018 giữa hai bên. Tại hợp đồng thể hiện mục đích vay vốn của bị đơn nhằm bổ sung vốn kinh doanh dược phẩm. Bà Nguyễn Thị Phương H được Giám đốc Sở Y cấp giấy chứng nhận đủ điều kinh doanh thuốc, nên quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

    3. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
    4. Nguyễn Thị Phương H và ông Nguyễn Phúc N có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố Đ, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

  2. Về yêu cầu của Nguyên đơn:
  3. Theo yêu cầu khởi kiện, lời trình bày của phía nguyên đơn, bị đơn và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định:

    Giữa Ngân hàng TMCP C và bà Nguyễn Thị Phương H, ông Nguyễn Phúc N đã ký kết Hợp đồng cho vay hạn mức số [...]/2018-HĐCVHM/NHCT470 ngày 16/11/2018, với số tiền vay 2.800.000.000 đồng. Phía Ngân hàng đã giải ngân toàn bộ số tiền trên cho bà H và ông N. Việc ký kết Hợp đồng giữa các bên hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung đều tuân thủ theo đúng quy định tại Điều 119 của Bộ luật Dân sự nên có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết hợp đồng.

    Theo các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thể hiện trong quá trình vay vốn, ngày 20/8/2019 bà Nguyễn Thị Phương H và ông Nguyễn Phúc N đã trả số tiền gốc 1.300.000.000 đồng và tiền lãi 89.945.205 đồng và xin rút 02 tài sản thế chấp, số tiền gốc còn lại chưa thanh toán là 1.500.000.000 đồng. Từ ngày 25/9/2019, bà H, ông N không thực hiện các nghĩa vụ trả tiền gốc, tiền lãi theo đúng cam kết, không thanh toán thêm được cho Ngân hàng TMCP C khoản tiền nào, nên Ngân hàng đã chuyển khoản vay thành nợ quá hạn và tính lãi trong hạn, quá hạn với mức lãi suất, thời gian vi phạm theo đúng thoả thuận trong hợp đồng đã ký kết.

    Từ những nhận định trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C. Buộc ông N1, bà H có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP C số tiền tạm tính đến ngày 22/8/2024 là 2.497.913.837 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 1.500.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 667.434.382 đồng; Nợ lãi quá hạn: 330.479.455 đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (22/8/2024) ông Nguyễn Phúc N, bà Nguyễn Thị Phương H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

  4. Về án phí:
  5. Ông Nguyễn Phúc N, bà Nguyễn Thị Phương H, phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

    Ngân hàng TMCP C được Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

    Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C đối với ông Nguyễn Phúc N, bà Nguyễn Thị Phương H.
  2. Buộc ông Nguyễn Phúc N và bà Nguyễn Thị Phương H phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C số tiền còn nợ tính đến ngày 22/8/2024 là 2.497.913.837 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 1.500.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 667.434.382 đồng; Nợ lãi quá hạn: 330.479.455 đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (22/8/2024) ông Nguyễn Phúc N và bà Nguyễn Thị Phương H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Về án phí:
  4. Buộc bà Nguyễn Thị Phương H và ông Nguyễn Phúc N phải nộp 81.958.276 đồng (Tám mươi mốt triệu chín trăm năm mươi tám nghìn hai trăm bảy mươi sáu đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước.

    Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C số tiền 40.265.000 đồng (Bốn mươi triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003353 ngày 11/6/2024.

  5. Về quyền kháng cáo:
  6. Án xử sơ thẩm, các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - Chi cục THADS thị xã Ba Đồn;
  • - VKSND thị xã Ba Đồn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hữu Tình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/KDTM-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 03/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Nguyễn Thị Phương Hảo, Nguyễn Phúc Nguyên
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger