Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CHƠN THÀNH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 03/2024/KDTM-ST

Ngày: 22/7/2024

V/v tranh chấp hợp đồng mua bán

hàng hóa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thư

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Đính

Bà Hồ Thị Xuân Thiều

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hồng Huế- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng- Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 01/2024/TLST-KDTM ngày 26 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-KDTM ngày 07/6/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2024/QĐST-KDTM ngày 25/6/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH X; địa chỉ trụ sở: Lô 1C4, đường CN8, Khu công nghiệp Tân Bình, xã Hưng Hòa, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương;

Đại diện theo pháp luật: Ông JZ- Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Viết Th, sinh năm 1990, địa chỉ: Tổ 4, khu phố 4, phường UH, thành phố TU, tỉnh Bình Dương (Có mặt)

Bị đơn: Công ty TNHH MTV S; địa chỉ trụ sở: Lô A1, khu công nghiệp CT 1, Khu phố 2, phường TT, thị xã CT, tỉnh Bình Phước.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tấn H– Tổng giám đốc (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Công ty TNHH X và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Viết Thành trình bày:

Ngày 01/01/2023, giữa Công ty TNHH X và Công ty TNHH MTV S có ký hợp đồng nguyên tắc số 01-2023/HĐNT/SHF-XIN HUI. Theo đó, Công ty TNHH X là bên bán; Công ty TNHH MTV S là bên mua - hàng hóa là mút xốp các loại. Theo thoả thuận giữa hai bên thì vào thứ 3 hàng tuần Công ty TNHH MTV S sẽ thanh toán cho Công ty TNHH X 100% giá trị hàng đã giao trước 01 tuần.

Thực hiện theo hợp đồng nguyên tắc số 01-2023/HĐNT/SHF-XIN HUI và căn cứ vào nhu cầu của Công ty TNHH MTV S từ tháng 5/2023 đến tháng 10/2023 Công ty TNHH X đã nhiều lần xuất bán hàng hóa cho Công ty TNHH MTV S và sau mỗi lần giao hàng Công ty TNHH X đều xuất Hóa đơn giá trị gia tăng để yêu cầu Công ty TNHH MTV S thanh toán. Công ty TNHH X đã xuất 46 hóa đơn giá trị gia tăng với số tiền 5.594.750.707 đồng. Tuy nhiên, Công ty TNHH MTV S chỉ thực hiện thanh toán được số tiền 3.277.858.852 đồng. Số tiền hàng còn lại là 2.316.891.855 đồng phía Công ty TNHH MTV S không tiếp tục thanh toán cho Công ty X.

Xét thấy, việc Công ty TNHH MTV S không thực hiện đúng việc thanh toán tiền hàng cho Công ty TNHH X là vi phạm nghiêm trọng thỏa thuận của các bên, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Công ty TNHH X. Vì vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty TNHH X đã khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước giải quyết những vế đề sau:

  • - Buộc Công ty TNHH MTV S phải thanh toán cho Công ty TNHH X số tiền hàng hóa còn nợ là 2.316.891.855 đồng.
  • - Buộc Công ty TNHH MTV S phải thanh toán cho Công ty TNHH X số tiền lãi suất chậm thanh toán theo lãi suất nợ quá hạn trung bình của 03 Ngân hàng thương mại là 1,3% tính từ ngày 15/10/2023 cho đến thời điểm Toà án xét xử sơ thẩm.

Bị đơn Công ty TNHH MTV S vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có văn bản trình bày ý kiến và không cung cấp tài liệu, chứng cứ.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn Công ty TNHH X thay đổi yêu cầu khởi kiện về mức lãi suất chậm thanh toán, yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH MTV S phải thanh toán cho Công ty TNHH X số tiền lãi suất chậm thanh toán theo mức lãi suất 1%/tháng tính từ ngày 15/10/2023 cho đến ngày xét xử sơ thẩm (09 tháng 07 ngày, làm tròn thành 09 tháng), cụ thể: Nợ gốc 2.316.891.855 đồng x lãi suất 1%/tháng x 09 tháng = 208.520.266 đồng.

Tổng tiền hàng còn nợ và tiền lãi chậm thanh toán mà Công ty TNHH MTV S phải thanh toán cho Công ty TNHH X là 2.525.412.121 đồng (Hai tỷ năm trăm hai mươi lăm triệu bốn trăm mười hai nghìn một trăm hai mươi mốt đồng).

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên tòa: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 2, Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 3, Điều 24, Điều 50, Điều 306, Điều 317 và Điều 319 Luật thương mại 2005; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH X. Buộc công ty TNHH MTV S phải thanh toán cho Công ty TNHH X số tiền còn nợ là 2.316.891.855 đồng và số tiền lãi đối với khoản nợ là 1%/tháng thời hạn 9 tháng là 208.520.266 đồng. Tổng số tiền công ty S phải trả cho Công ty TNHH X là 2.525.412.121 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Xin Hui về việc buộc bị đơn Công ty TNHH MTV S thanh toán số tiền mua bán hàng hóa phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại, nguyên đơn và bị đơn đều có đăng ký kinh doanh, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ Luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Công ty TNHH MTV S có trụ sở tại Lô A1, Khu công nghiệp CT I, phường TT, thị xã CT, tỉnh Bình Phước. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

[1.3] Về việc vắng mặt của đương sự: Bị đơn Công ty TNHH MTV S được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[1.4] Về việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại phiên tòa, nguyên đơn Công ty TNHH X thay đổi yêu cầu khởi kiện về mức lãi suất chậm thanh toán, yêu cầu bị đơn chịu mức lãi suất chậm thanh toán 1%/tháng. Xét việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. Căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2] Về nội dung

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH X về việc buộc bị đơn Công ty TNHH MTV S phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền hàng còn nợ là 2.316.891.855 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Ngày 01/01/2023, Công ty TNHH X và Công ty TNHH MTV S ký hợp đồng nguyên tắc số 01-2023/HĐNT/SHF-XIN HUI với nội dung Công ty TNHH X bán cho Công ty TNHH MTV S hàng hóa là Xốp các loại. Xét việc giao kết hợp đồng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại điều 24 của Luật Kinh doanh thương mại 2005 nên có hiệu lực pháp luật.

Thực hiện hợp đồng nguyên tắc trên, từ tháng 5/2023 đến tháng 10/2023, Công ty TNHH X đã giao hàng cho Công ty TNHH MTV S và xuất tổng cộng 46 đơn giá trị gia tăng với số tiền 5.594.750.707 đồng. Công ty TNHH MTV S đã thanh toán cho Công ty TNHH X số tiền 3.227.858.852 đồng. Công ty TNHH MTV S chưa thanh toán cho Công ty TNHH X số tiền còn lại là 2.316.891.855 đồng theo các hóa đơn: Hóa đơn số 246 ngày 29/6/2023, Hóa đơn số 247 ngày 29/6/2023, Hóa đơn số 255 ngày 29/6/2023, Hóa đơn số 263 ngày 03/7/2023, Hóa đơn số 264 ngày 03/7/2023, Hóa đơn số 266 ngày 05/7/2023, Hóa đơn số 267 ngày 08/7/2023, Hóa đơn số 269 ngày 10/7/2023, Hóa đơn số 277 ngày 18/7/2023, Hóa đơn số 282 ngày 25/7/2023, Hóa đơn số 304 ngày 28/7/2023, Hóa đơn số 305 ngày 28/7/2023, Hóa đơn số 306 ngày 28/7/2023, Hóa đơn số 307 ngày 28/7/2023, Hóa đơn số 322 ngày 01/8/2023, Hóa đơn số 323 ngày 02/8/2023, Hóa đơn số 324 ngày 03/8/2023, Hóa đơn số 325 ngày 04/8/2023, Hóa đơn số 326 ngày 05/8/2023, Hóa đơn số 327 ngày 07/8/2023, Hóa đơn số 411 ngày 02/10/2023, Hóa đơn số 412 ngày 02/10/2023, Hóa đơn số 413 ngày 02/10/2023, Hóa đơn số 414 ngày 02/10/2023, Hóa đơn số 415 ngày 02/10/2023, Hóa đơn số 417 ngày 02/10/2023, Hóa đơn số 419 ngày 04/10/2023.

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là Phiếu giao hàng có chữ ký của bên nhận hàng là Công ty TNHH MTV S, Hóa đơn giá trị gia tăng, Bảng sao kê tài khoản Ngân hàng và căn cứ kết quả trả lời của Cơ quan quản lý thuế về việc Công ty TNHH MTV S kê khai khấu trừ thuế đối với các hóa đơn trên, Hội đồng xét xử xét thấy Công ty TNHH X cho rằng Công ty TNHH MTV S còn nợ Công ty TNHH X số tiền 2.316.891.855 đồng là có căn cứ. Quá trình giải quyết vụ án, Công ty TNHH MTV S không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH X. Do vậy, yêu cầu của Công ty TNHH X về việc buộc Công ty TNHH MTV S phải thanh toán cho Công ty TNHH Xin Hui số tiền 2.316.891.855 đồng được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn Công ty TNHH X về việc buộc bị đơn Công ty TNHH MTV S phải chịu lãi suất chậm thanh toán với mức lãi suất 1%/tháng, tính từ ngày 15/10/2023 cho đến thời điểm Toà án xét xử sơ thẩm (09 tháng 07 ngày, làm tròn thành 09 tháng), Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về thời gian chậm thanh toán: Khi ký Hợp đồng nguyên tắc các bên thỏa thuận Thứ 3 hàng tuần, sau khi Công ty TNHH MTV S nhận đủ chứng từ thanh toán, Công ty TNHH MTV S sẽ thanh toán tiền hàng đã giao trước 01 tuần. Lần cuối Công ty TNHH X giao hàng cho Công ty TNHH MTV S là ngày 02/10/2023, xuất hóa đơn giá trị gia tăng vào ngày 04/10/2023. Như vậy, Công ty TNHH X yêu cầu tính lãi chậm thanh toán từ ngày 15/10/2023 là có căn cứ.

Về mức lãi suất chậm thanh toán: Do các bên không thỏa thuận về mức lãi suất chậm thanh toán. Do vậy, Căn cứ quy định tại Điều 306 Luật thương mại quy định về quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán thì: Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Xét thấy, đến thời điểm xét xử, bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán thời gian là 09 tháng 07 ngày. Mức lãi suất nợ quá hạn trung bình đối với khoản vay ngắn hạn của 03 Ngân hàng tại địa phương ở thời điểm xét xử sơ thẩm là 13.6%/năm (1.13%/tháng), trong đó: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 12,75%, Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam là 12%/năm và Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam 16.05%/năm.

Do vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn chịu mức lãi suất chậm thanh toán 1%/tháng là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Số tiền lãi chậm thanh toán Công ty TNHH MTV S phải thanh toán cho Công ty TNHH X là: Nợ gốc 2.316.891.855 đồng x lãi suất 1%/tháng x 09 tháng = 208.520.266 đồng.

Tổng cộng Công ty TNHH MTV S phải thanh toán cho Công ty TNHH X là 2.316.891.855 đồng + 208.520.266 đồng = 2.525.412.121 đồng (Hai tỷ năm trăm hai mươi lăm triệu bốn trăm mười hai nghìn một trăm hai mươi mốt đồng).

[6] Tại phiên tòa quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 82.508.242 đồng.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015;
  • - Căn cứ khoản 1 và 8 Điều 3, Điều 24, Điều 50, Điều 306, Điều 319 của Luật thương mại 2005;
  • - Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH X

  1. Buộc bị đơn Công ty TNHH MTV S phải thanh toán cho Công ty TNHH X số tiền hàng còn nợ là 2.316.891.855 đồng (Hai tỷ ba trăm mười sáu triệu tám trăm chín mươi mốt nghìn tám trăm năm mươi lăm đồng)
  2. Buộc bị đơn Công ty TNHH MTV S phải thanh toán cho Công ty TNHH X số tiền lãi chậm thanh toán là 208.520.266 đồng (Hai trăm lẻ tám triệu năm trăm hai mươi nghìn hai trăm sáu mươi sáu đồng).

Tổng cộng Công ty TNHH MTV S phải thanh toán cho Công ty TNHH X là 2.316.891.855 đồng + 208.520.266 đồng = 2.525.412.121 đồng (Hai tỷ năm trăm hai mươi lăm triệu bốn trăm mười hai nghìn một trăm hai mươi mốt đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, hàng tháng bên có nghĩa vụ phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Bị đơn Công ty TNHH MTV S phải chịu số tiền án phí là 82.508.242 đồng (Tám mươi hai triệu năm trăm lẻ tám nghìn hai trăm bốn mươi hai đồng).

Nguyên đơn Công ty TNHH X không phải chịu án phí. Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành trả lại cho nguyên đơn Công ty TNHH X số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 40.976.000 đồng (Bốn mươi triệu chín trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng số 004042 ngày 26 tháng 01 năm 2024.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND thị xã Chơn Thành;
  • - Chi cục THADS thị xã Chơn Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Minh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/KDTM-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 03/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu thanh toán tiền hàng còn nợ và lãi suất chậm trả
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger