Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/DS-ST

Ngày: 22/5/2024

V/v: Kiện đòi quyền sử dụng đất,

tranh chấp Hợp đồng tặng cho

quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Quý Sửu

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Thanh Hải, bà Hà Thị Dung

- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Thuý Linh; Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Kim Loan, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại Hội trường Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm vụ án Dân sự thụ lý số 15/2023/TLST-DS ngày 16/10/2023 về việc: Kiện đòi quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXX-ST ngày 25/3/2024; giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

Bà Dương Thị P, sinh năm 1956; đại diện theo ủy quyền: anh Dương Tuấn A, sinh năm 1986; đều có địa chỉ: Xóm T, xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt bà P, có mặt anh Dương Tuấn A.

Bị đơn:

Ông Dương Hữu K, sinh năm 1958; uỷ quyền cho bà Đồng Thị H, sinh năm 1964; cùng địa chỉ: Xóm T, xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; đều có mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn:

Luật sư Lưu Thúy H1, Văn phòng L2 - Đoàn luật sư tỉnh T; có mặt

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Cụ Dương Thị P1, sinh năm 1935; vắng mặt
  2. Bà Đồng Thị H, sinh năm 1964; có mặt

Cùng địa chỉ: Xóm T, xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

  1. Bà Dương Thị S, sinh năm 1972; địa chỉ: Xóm H, xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt
  2. Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Quang N; Chức vụ: Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có đơn xin xét xử vắng mặt.

  1. UBND xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện theo uỷ quyền: Ông Hoàng Viết T, Công chức địa chính và bà Nguyễn Thị Lan H2; Công chức Tư pháp hộ tịch; có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người làm chứng:

  1. Ông Trần Mạnh K1; vắng mặt
  2. Ông Nguyễn Đức Q; vắng mặt

Cùng địa chỉ: Xóm T, xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Dương Thị P, đại diện theo uỷ quyền anh Dương Tuấn A trình bày:

Bố mẹ đẻ bà P là cụ Dương Văn L (chết năm 2020) và cụ Dương Thị P1, sinh năm 1923 sinh được 03 người con gồm bà Dương Thị P, ông Dương Hữu K, bà Dương Thị S. Khoảng năm 1973 đến 1974 cụ L, cụ P1 khai hoang được khu đất tại xóm T, xã H, thành phố T, trong đó bà P là chị cả có nhiều công sức cùng với bố mẹ khai hoang khu đất nêu trên. Năm 1991, cụ L, cụ P1 nhất trí cho bà P khu đất gần nhà, bà P làm nhà, sử dụng đất từ năm 1991. Năm 1994 bà P kê khai được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/6/1994, xác định là thửa đất số 84, tờ số 3 bản đồ giải thửa 299, diện tích 1.020 m2, loại đất Thổ cư và 05 thửa đất ruộng được giao khoán.

Do ở gần vợ chồng ông K, bà H, nên phát sinh mâu thuẫn chị chồng, em dâu. Năm 1997, mẹ con bà P chuyển nhà sang khu đất của bà Nguyễn Thị V, là bà ngoại bà P, bỏ hoang, cạnh nghĩa trang gần đó để làm nhà sinh sống. Bà P dỡ ngôi nhà trên thửa đất số 84 gần nhà bố mẹ đẻ làm vật liệu xây dựng để làm nhà mới. Năm 1999, bà P kê khai thửa đất ở mới xác định là thửa 1168a và 1168b, tờ bản đồ địa chính số 02, diện tích 810m2 và chuyển 05 thửa đất ruộng nhận khoán sang cùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới. Ngày 21/6/1999, UBND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1168 a, 1168 b và 05 thửa đất ruộng nhận khoán. Thửa đất số 84 được bố mẹ đẻ cho vẫn để nguyên tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp năm 1994. Bà P để riêng thửa đất này không chuyển sang bìa mới, mục đích sau này tặng cho con trai là anh Dương Tuấn A.

Sau khi chuyển nhà sang khu đất mới của bà ngoại Nguyễn Thị V cho, năm 1998, ông Dương Hữu K là em ruột bà P sử dụng thửa đất số 84 để trồng cây ổi và cây hàng năm. Trước khi sử dụng, ông K có hỏi bà P, bà P nhất trí

cho ông K sử dụng, nhưng khi bà cần ông K phải trả lại. Tháng 4/2021 bà P có nhu cầu sử dụng thửa đất số 84, yêu cầu ông K trả lại đất, thì ông K nói thửa đất này đã được cụ L, cụ Phong tặng cho, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên vợ chồng ông Dương Hữu K, bà Đồng Thị H. Bà P tìm hiểu thì được biết, năm 1999, cụ L là bố đẻ bà kê khai thửa đất số 84 bà P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 21/6/1999, UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Dương Văn L, xác định là thửa đất số 1113, tờ bản đồ địa chính số 2, diện tích 1.536,9 m², loại đất Hoang chưa sử dụng.

Ngày 22/9/2015, cụ L, cụ Phong tặng cho toàn bộ 9.167,4 m2 đất, gồm đất ở, đất lúa, đất hàng năm khác, trong đó có thửa 1113, diện tích 1.536,9 m² trước đây là thửa đất số 84 của bà P cho ông Dương Hữu K. Ngày 19/01/2016, UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Dương Hữu K.

Bà Dương Thị P yêu cầu Toà án tuyên vô hiệu một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, giữa cụ Dương Văn L, cụ Dương Thị P1 với ông Dương Hữu K, được Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ (nay là UBND xã H, thành phố T), tỉnh Thái Nguyên chứng thực ngày 22/9/2015; Huỷ một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện Đ cấp cho ông Dương Hữu K ngày 19/01/2016 đối với thửa đất 1113, tờ bản đồ số 2, diện tích 1.536,9m²;

Buộc ông Dương Hữu K trả lại thửa đất số 84, tờ bản đồ số 3 bản đồ 299, nay là thửa đất 1113, tờ bản đồ địa chính số 2 xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, diện tích 1.536,9 m².

Bị đơn ông Dương Hữu K, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cụ Dương Thị P1, bà Đồng Thị H, bà Dương Thị S trình bày:

Bà Dương Thị P được bố mẹ đẻ là cụ Dương Văn L, Dương Thị P1 cho thửa đất giáp với thửa đất thổ cư của các cụ, tại xóm T, xã H, huyện Đ, nay là thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Bà P có làm nhà tranh tre nứa, sử dụng từ năm 1991 đến năm 1997. Quá trình sử dụng đất bà P kê khai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thửa 84, tờ số 3 bản đồ 299, diện tích 1.020 m2, loại đất thổ cư.

Năm 1997, bà P đổi thửa đất số 84 cho cụ L lấy diện tích đất đang ở hiện nay là thửa đất 1168, tờ bản đồ số 2 diện tích 810m², cách phần đất đang tranh chấp khoảng 500m. Khi hai bên đổi đất không có giấy tờ, chỉ nói bằng miệng.

Năm 1999, cụ L kê khai để cấp phần đất đã đổi cho bà P tại thửa đất số 84, tờ số 3 bản đồ 299 và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thửa 1113, tờ bản đồ số 2. Năm 2015, cụ Lưu T1 cho ông Dương Hữu K toàn bộ diện tích đất của cụ được cấp, trong đó có thửa đất 1113. Ngày 19/01/2016, UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Dương Hữu K. Năm 2021, hai bên tranh chấp, gia đình ông K đề nghị chia đôi thửa đất số 1113 cho bà P ½, nhưng bà P không nhất trí.

Nay bà P khởi kiện yêu cầu Toà án xác định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ L, cụ P1 với ông K đối với thửa đất số 1113 vô hiệu, huỷ một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện Đ cấp cho ông Dương Hữu K, buộc ông K trả lại thửa đất 1113, tờ bản đồ số 2, diện tích 1.536,9 m², cụ P1, ông K, bà S, bà H không nhất trí.

UBND thành phố T trình bày:

UBND thành phố T có văn bản đề nghị Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T cung cấp hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện Đ (nay là UBND thành phố T) cấp ngày 21/6/1999 mang tên hộ ông Dương Văn L và hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện Đ cấp ngày 30/6/1994 mang tên bà Dương Thị P. Tuy nhiên, chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T không cung cấp được 02 hồ sơ nêu trên. UBND thành phố T chưa đủ cơ sở trả lời việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 84, tờ số 3 bản đồ 299 (nay là thửa 1113, tờ bản đồ địa chính số 2 xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên). Đề nghị Toà án căn cứ vào các quy định của pháp luật giải quyết theo quy định.

UBND xã H, thành phố T trình bày:

Hiện nay UBND xã H, thành phố T không còn lưu trữ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 1168 a, 1168 b cấp cho bà P, thửa đất số 1113 cấp cho cụ L năm 1999, nên không có căn cứ xác định nguồn gốc thửa đất số 1168 a, 1168b và không có căn cứ xác định việc UBND xã H ký xác nhận hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 1113 cho cụ L có đúng quy định của pháp luật không.

Việc chứng thực Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ L, cụ P1 với ông K ngày 22/9/2015, UBND xã H căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện Đ cấp cho cụ Dương Văn L. Đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Dương Hữu K trình bày: Thửa đất các bên đang tranh chấp có nguồn gốc của cụ L, cụ P1 năm 1991 cho bà P sử dụng làm nhà ở từ năm 1991 đến năm 1994 bà P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1997, cụ Lưu đổi thửa đất số 1168a, 1168b hiện nay bà P đang ở để lấy thửa đất số 84 của bà P, việc đổi chỉ bằng miệng. Năm 1999, cụ L kê khai thửa đất số 84 của bà P và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thửa 1113. Năm 2015, cụ L, cụ Phong tặng cho ông K thửa đất này. Bà P chuyển đi không sử dụng thửa đất số 84 từ năm 1997 đến nay không nộp thuế, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn khởi kiện của bà P về việc đòi thửa đất số 1113 với ông K; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 84, UBND huyện Đ cấp cho bà P năm 1994.

Đại diện VKSND tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến xác định:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà, người tham gia tố tụng trong vụ án đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về

nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị P, xác định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ L, cụ P1 với ông K đối với thửa đất số 1113 vô hiệu, huỷ một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện Đ cấp cho ông Dương Hữu K, buộc ông K trả lại thửa đất 1113, tờ bản đồ số 2, diện tích 1.536,9 m² cho bà Dương Thị P. Phần tài sản trên đất buộc bà P phải thanh toán cho ông K theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

[1] Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất.

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án, căn cứ vào nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất, ý kiến trình bày của các đương sự, thấy cùng một vị trí đất, UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Dương Thị P năm 1994, đến năm 1999 UBND huyện Đ lại cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Dương Văn L, nhưng không dựa trên căn cứ xác lập quyền sử dụng đất. Việc cấp cùng một vị trí đất cho 02 người, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án mà Toà án đang giải quyết và phải được xem xét trong việc giải quyết vụ án dân sự, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên theo quy định tại khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 31, Điều 32 Luật tố tụng hành chính.

Về nội dung:

Về nguồn gốc, vị trí và quá trình sử dụng thửa đất tranh chấp:

[3] Các đương sự đều xác định thửa đất tranh chấp hiện nay có nguồn gốc của cụ L, cụ P1 khai phá đến năm 1991 cho bà P sử dụng làm nhà ở từ năm 1991 đến năm 1997, bà P chuyển nhà ra thửa đất số 1168 cách đó khoảng 500 mét. Các đương sự cũng thừa nhận, năm 1994 bà P kê khai và được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất đang tranh chấp hiện nay là thửa số 84, tờ số 3 bản đồ giải thửa 299, diện tích 1.020 m2 loại đất Thổ cư, ngoài thửa đất số 84, được cấp thời điểm đó bà P không có thửa đất nào khác. Năm 1999 cụ L kê khai thửa đất của bà P, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xác định là thửa 1113, tờ bản đồ địa chính số 2, diện tích 1.536,9 m², loại đất hoang chưa sử dụng. Năm 2015, cụ L, cụ Phong tặng cho ông K toàn bộ diện tích đất ở, đất ruộng trong đó có thửa 1113 các bên tranh chấp.

[4] Có đủ căn cứ để xác định thửa đất số 84, tờ số 3 bản đồ 299, diện tích 1.020 m² UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà P ngày 30/6/1994 chính là thửa đất số 1113, tờ bản đồ địa chính số 2, diện tích 1.536,9 m², UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/6/1999 mang tên hộ ông Dương Văn L.

[5] Bà Dương Thị P cho rằng thửa đất số 1113 theo bản đồ địa chính hiện nay là thửa đất số 84, tờ số 3 bản đồ 299 bà P được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1994 là có căn cứ.

Xét yêu cầu khởi kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất của bà Dương Thị P thấy:

[6] Bị đơn ông K, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cụ P1, bà H, bà S cho rằng thửa đất số 84 của bà P sử dụng trước đây, năm 1997 đã đổi cho cụ L để lấy thửa đất số 1168 bà P đang sử dụng hiện nay; xét thấy:

[7] Về pháp lý, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện Đ cấp năm 1994 cho bà P đối với thửa đất số 84 đến nay chưa có tài liệu nào xác định đã có quyết định thu hồi, hoặc điều chỉnh giảm, nên thửa đất số 84 bà P được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đang còn hiệu lực.

[8] UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ L năm 1999 xác định là đất hoang chưa sử dụng, trong khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà P là loại đất thổ cư, thực tế bà P đã làm nhà trên đất, sử dụng đất từ năm 1991 đến năm 1997 mới chuyển đi, là không phù hợp với hiện trạng sử dụng đất. UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Lưu T2 vị trí đất đã cấp cho bà P, nhưng không dựa trên căn cứ xác lập quyền sử dụng đất nào cho cụ L là không đúng quy định của pháp luật.

[9] Trên cơ sở giấy chứng nhận cấp không đúng quy định, cụ Lưu L1 hợp đồng tặng cho thửa đất số 1113 cho ông K là trái pháp luật.

Bà P yêu cầu Toà án xác định hợp đồng tặng cho thửa đất số 1113 giữa cụ L, cụ P1 với ông K vô hiệu và yêu cầu huỷ một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện Đ cấp cho ông K, buộc ông K phải trả lại thửa đất số 1113 cho bà P là có căn cứ chấp nhận.

[10] Bà P yêu cầu ông K, bà H phải trả toàn bộ thửa đất số 1113, diện tích 1.536,9 m² xét thấy:

Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của TAND tỉnh Thái Nguyên ngày 24/01/2024, các đương sự đều xác định diện tích đất nằm trong ranh giới theo bản đồ địa chính thửa 1113 do Công ty TNHH H3 đo đạc đều là diện tích đất do cụ L khai phá và cho bà P sử dụng trước đây.

Diện tích thửa đất số 1113, tờ bản đồ số 2, diện tích 1.536,9 m² được cấp trên cơ sở thửa đất số 84, tờ số 3 bản đồ 299. Thửa 84 diện tích 1.020 m2, được thiết lập theo bản đồ giải thửa 299, nên có sự chênh lệch về diện tích, nhưng đều thuộc thửa đất bà P sử dụng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên công nhận quyền sử dụng đất cho bà P theo bản đồ địa chính.

Về tài sản trên đất:

[11] Các tài sản trên đất tranh chấp gồm cây cau, cây bưởi, cây mít và đoạn tường rào xây gạch xi măng do ông K trồng, xây dựng, cần giao cho bà P được sử dụng, bà P có trách nhiệm thanh toán giá trị cho ông K theo kết luận định giá tài sản.

[12] Đối với phần diện tích đất thuộc thửa 1113 có diện tích 279,4 m2, ông K cho rằng trước đây phần đất này là bãi tre, khoảng tháng 6/2023 vợ chồng ông K san đất trên vườn xuống cho bằng mặt đường. Thời điểm vợ chồng ông K san lấp vườn các bên đã phát sinh tranh chấp, nên không buộc bà P thanh toán tiền công san gạt phần đất này. Ngoài ra ông K, bà H sử dụng thửa đất số 1113 do được nhận tặng cho từ cụ L năm 2016, tuy nhiên việc tặng cho không hợp pháp nên không buộc bà P phải thanh toán công sức duy trì bảo quản tài sản trong thời gian ông K quản lý sử dụng đất.

Về án phí:

[13] Nguyên đơn bà Dương Thị P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông Dương Hữu K là người cao tuổi, nên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị đơn ông Dương Hữu K.

Về chi phí tố tụng:

[14] Ghi nhận bà Dương Thị P tự nguyện chịu chi phí thẩm định, định giá tài sản (đã thực hiện xong).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

khoản 9 Điều 26, Điều 37, Điều 39; Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 123, Điều 131, 132, 164, 166, Điều 357, 468 Bộ luật dân sự; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị P đối với ông Dương Hữu K về việc kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất.
    1. Xác định Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, giữa cụ Dương Văn L, cụ Dương Thị P1 với ông Dương Hữu K, UBND xã H, huyện Đ (nay là UBND xã H, thành phố T), tỉnh Thái Nguyên chứng thực ngày 22/9/2015 đối với thửa đất số 1113, tờ bản đồ địa chính số 2 xã H, thành phố T, diện tích 1536,9 m² vô hiệu.
    2. Huỷ một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện Đ cấp cho ông Dương Hữu K ngày 19/01/2016 đối với thửa đất 1113, tờ bản đồ số 2 xã H, thành phố T, diện tích 1.536,9m².
    3. Buộc ông Dương Hữu K, bà Đồng Thị H trả cho bà Dương Thị P thửa đất số 84, tờ bản đồ số 3 bản đồ 299, nay là thửa đất 1113, tờ bản đồ địa chính số 2 xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, diện tích 1.536,9 m² (có sơ đồ chi tiết kèm theo)
    4. Bà Dương Thị P được sử dụng 17 cây cau, 22 cây ổi, 05 cây táo, 06 cây bưởi, 01 cây mít và đoạn tường rào xây gạch xi măng trên thửa đất 1113, tờ bản đồ số 2 xã H, thành phố T. Bà P có trách nhiệm thanh toán giá trị tài sản cho ông K bà H số tiền là 25.422.763 đồng.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành số tiền trên, thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thi hành xong. Mức lãi suất chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền chậm trả. Trường hợp không thỏa thuận được về lãi suất chậm trả thì được xác định theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.

  1. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Dương Thị P và ông Dương Hữu K.
  2. Về chi phí tố tụng: Bà Dương Thị P tự nguyện chịu số tiền chi phí xem xét thẩm định định giá tài sản 12.200.000 đồng (đã thực hiện xong)
  3. Quyền kháng cáo: Các bên đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Cục THADS tỉnh Thái Nguyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Quý Sửu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/DS-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về kiện đòi quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.

  • Số bản án: 03/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Kiện đòi quyền sử dụng đất, tranh chấp Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị P đối với ông Dương Hữu K về việc kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất. 1.1. Xác định Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, giữa cụ Dương Văn L, cụ Dương Thị P1 với ông Dương Hữu K, UBND xã H, huyện Đ (nay là UBND xã H, thành phố T), tỉnh Thái Nguyên chứng thực ngày 22/9/2015 đối với thửa đất số 1113, tờ bản đồ địa chính số 2 xã H, thành phố T, diện tích 1536,9 m2 vô hiệu. 1.2. Huỷ một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện Đ cấp cho ông Dương Hữu K ngày 19/01/2016 đối với thửa đất 1113, tờ bản đồ số 2 xã H, thành phố T, diện tích 1.536,9m2. 1.3. Buộc ông Dương Hữu K, bà Đồng Thị H trả cho bà Dương Thị P thửa đất số 84, tờ bản đồ số 3 bản đồ 299, nay là thửa đất 1113, tờ bản đồ địa chính số 2 xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, diện tích 1.536,9 m2 (có sơ đồ chi tiết kèm theo). 1.4. Bà Dương Thị P được sử dụng 17 cây cau, 22 cây ổi, 05 cây táo, 06 cây bưởi, 01 cây mít và đoạn tường rào xây gạch xi măng trên thửa đất 1113, tờ bản đồ số 2 xã H, thành phố T. Bà P có trách nhiệm thanh toán giá trị tài sản cho ông K bà H số tiền là 25.422.763 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger