|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2024/KDTM-ST
Ngày: 22/4/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng mua bán
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Thẩm – Ông Nguyễn Đình Cát
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Khắc Tân – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 93/2023/TLST- KDTM ngày 20 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng mua bán theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST - KDTM ngày 01 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2024/QĐST-KDTM ngày 15/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2024/QĐST-KDTM ngày 29/3/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH Nguyên Phát Thanh Bình
- Bị đơn: Công ty cổ phần T
Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Minh M – Giám đốc. Vắng mặt
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thanh M1 ( theo giấy ủy quyền số 01/2024/GUQ ngày 19/4/2024). Có mặt
Địa chỉ: Số B, đường B, xã H, thành phố V, Nghệ An
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn S - Giám đốc. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào đơn khởi kiện và những lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án đại diện theo pháp luật của nguyên đơn TNHH Nguyên Phát Thanh B (sau đây gọi tắt là công ty T1) trình bày: Ngày 12/02/2020 công ty T1 và công ty cổ phần T (sau đây gọi tắt là công ty T) có ký kết hợp đồng nguyên tắc ngày 12/02/2020 về việc mua bán vật liệu xây dựng cát đá. Đơn giá được thỏa thuận tại từng thời điểm giao hàng hoặc được ghi nhận trên phiếu đặt hàng. Điểm giao nhận hàng hóa tại thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Hình thức thanh toán chuyển khoản hoặc tiền mặt, định kỳ vào ngày 30 hàng tháng chốt khối lượng và trong vòng 7 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ thanh toán sẽ thanh toán. Tổng giá trị tiền hàng hóa đã giao cho công T2 đã giao cho công ty T là 230.253.020 đồng thông qua ba hóa đơn GTGT cụ thể: Hóa đơn GTGT số 0000023 ngày 31/5/2020 là 59.537.500 đồng; Hóa đơn GTGT số 0000119 ngày 22/12/2020 số tiền 169.415.520 đồng; Hóa đơn GTGT số 0000193 ngày 20/5/2021 số tiền 1.300.000 đồng.
Quá trình thanh toán: Ngày 13/11/2020 công ty T thanh toán được số tiền 20.000.000 đồng.
Ngày 18/12/2020 và ngày 08/9/2022 công ty T1 có gửi đơn đến công ty T thanh toán số tiền còn nợ nhưng công ty T vẫn chưa thanh toán.
Ngày 05/12/2023 công ty T tiếp tục thanh toán cho công ty T1 số tiền 50.000.000 đồng và có gửi công văn gia hạn nợ và kế hoạch trả nợ cho công ty T1. Tuy nhiên theo kế hoạch trả nợ thì công ty T tiếp tục vi phạm và không thực hiện.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay công ty T1 yêu cầu công ty T thanh toán tiền hàng còn thiếu là 160.000.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay công ty cổ phần T vắng mặt nên Tòa án không thể lấy lời khai và tiến hành hòa giải vụ án được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong giải quyết vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn, chấp hành đúng quy định của pháp luật theo các điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại điều 70, 72 Bộ luật tố tụng Dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T1; Buộc công ty cổ phần T có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH T1 số tiền nợ là 160.000.000 đồng.
Về án phí: Buộc công ty cổ phần T phải chịu toàn bộ án phí KDTM ST, trả lại số tiền tạm ứng án phí mà Công ty TNHH T1 đã nộp tại chi cục thi hành án Dân sự Thành phố Vinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án có quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng mua bán. Tại điều 8 của hợp đồng nguyên tắc ngày 12/02/2020 có nêu: ....Trong trường hợp hai bên không thể thỏa thuận giải quyết được tranh chấp thì thống nhất lựa chọn Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh là nơi giải quyết tranh chấp”. Tuy nhiên đây là tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa nên theo quy định khoản 1 điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 BLTTDS thì tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Theo như thỏa thuận của các bên trong hợp đồng mua bán thì các bên lại thỏa thuận Tòa án nhân dân cấp tỉnh để giải quyết trong trường hợp có tranh chấp xảy ra, như vậy là trái với quy định của pháp luật. Trong vụ án này, bị đơn có trụ sở tại thành phố V. Vì vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì Tòa án nhân dân thành phố Vinh thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào Điều 227, 228 BLTTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với công ty T.
[2]. Về nội dung vụ án
Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc công ty T thanh toán tiền mua hàng còn thiếu là 160.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào hợp đồng nguyên tắc ngày 12/02/2020 đều được người đại diện hợp pháp của hai công ty ký tên và đóng dấu. Tại Điều 24 Luật thương mại quy định: “Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.” Như vậy, về hình thức của hợp đồng là đúng theo quy định của pháp luật.
Đối tượng của hợp đồng không thuộc loại hàng hóa cấm kinh doanh, hàng hóa hạn chế kinh doanh theo quy định tại Điều 25 Luật thương mại và các thỏa thuận trong hợp đồng là sự tự nguyện thỏa thuận của các bên nên các hợp đồng mua bán trên có giá trị thi hành đối với các bên.
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ vụ án là hợp đồng nguyên tắc ngày 12/02/2020; Các Hóa đơn GTGT, lời khai của đương sự và công văn gia hạn nợ ngày 06/12/2023 của công ty T đủ cơ sở kết luận: Công ty T đang còn nợ công ty T1 số tiền mua hàng còn thiếu là 160.000.000 đồng.
Vì vậy, việc công ty T1 yêu cầu công ty T trả số tiền mua hàng còn thiếu là 160.000.000 đồng là có cơ sở cần chấp nhận.
[3]. Về án phí: Công ty T1 yêu cầu công ty T phải trả số tiền là 160.000.000 đồng được Tòa án chấp nhận toàn bộ, nên theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, công ty T phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả lại cho công ty T1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại chi cục thi hành án Dân sự thành phố Vinh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, 25, 50, 317 Luật thương mại; Khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử : 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T1.
2. Buộc công ty cổ phần T có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH T1 số tiền mua hàng còn thiều là 160.000.000đ (một trăm sáu mươi triệu đồng).
Kể từ ngày công ty TNHH T1 có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng công ty cổ phần T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 BLDS 2015.
3. Về án phí: Công ty cổ phần T phải chịu 8.000.000đ (tám triệu đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Trả lại cho Công ty TNHH T1 số tiền 5.500.000đ (năm triệu năm trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo biên lai số 0004085 ngày 14/11/2023.
5. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phạm Thị Minh H |
Bản án số 03/2024/KDTM-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng mua bán
- Số bản án: 03/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị đơn thừa nhận nợ nhưng không đến Tòa án để giải quyết vụ án
