Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 16/4/2025

“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Thùy Dương
  • Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Thế Căn và bà Lê Thị Thu Anh
  • Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Móng Cái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tham gia phiên tòa: ông Vương Hải Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025. Tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025 về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị B, sinh năm 2003; nơi thường trú: thôn N, xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: thôn E, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh - vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: anh Hà Văn T, sinh năm 2001; nơi cư trú: thôn N, xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh - vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 07/11/2024 và bản tự khai ngày 15/01/2025 nguyên đơn chị Nguyễn Thị B trình bày:

Chị Nguyễn Thị B và anh Hà Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 22/02/2022, tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt trầm trọng không thể kéo dài được nữa. Do vậy, chị B thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái giải quyết cho chị B được ly hôn với anh Hà Văn T.

- Về con chung: chị Nguyễn Thị B và anh Hà Văn T có 02 (hai) con chung là Hà Như M, sinh ngày 08/3/2022 và Hà Như Q, sinh ngày 20/02/2024, hiện cháu M đang ở cùng với anh Hà Văn T tại thôn N, xã V, thành phố M, còn cháu Q đang ở với chị Nguyễn Thị B cùng ông bà ngoại tại thôn E, xã H, thành phố M. Sau khi ly hôn chị B có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Q; anh T có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, tại bản tự khai ngày 15/01/2025 chị B có nguyện vọng sau khi ly hôn được nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, khoản nợ chung: chị Nguyễn Thị B và anh Hà Văn T không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị B đề nghị Tòa án không tiến hành mở phiên hòa giải. Tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị B có đơn xin xử vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên quan điểm như đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/02/2025 bị đơn anh Hà Văn T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: anh Hà Văn T và chị Nguyễn Thị B có thời gian tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2022, đến ngày 22/02/2022 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng đôi khi cũng phát sinh mâu thuẫn, nhưng không đến mức phải ly hôn, nên anh T không đồng ý ly hôn và đề nghị Toa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, cùng nhau nuôi dạy con chung. Vì vậy, anh T không đồng ý ly hôn với chị B nên không có quan điểm về việc giải quyết nuôi con chung, tài sản chung và khoản nợ chung.

Theo kết quả xác minh tại thôn N, xã V, thành phố M được biết: sau khi kết hôn vợ chồng chị B, anh T sinh sống cùng ông bà nội tại thôn N, xã V, thành phố M. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, đến tháng 4/2024 chị B chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở xã H, thành phố M sinh sống từ đó cho đến nay, còn anh T vẫn ở nhà bố mẹ đẻ tại thôn N, xã V, thành phố M. Về con chung chị B và anh T có 02 (hai) con chung hiện nay cháu M đang sinh sống cùng anh T, còn cháu Q đang ở với chị B.

Tại phiên tòa hôm nay anh Hà Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; chị Nguyễn Thị B có đơn xin xử vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên quan điểm như đơn yêu cầu khởi kiện, không bổ sung gì thêm. Các đương sự không có thỏa thuận gì về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử đã đảm bảo đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt tại phiên tòa nên không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định.

- Về việc giải quyết vụ án: căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị B. Về con chung: giao con chung H Mỹ và Hà Như Q cho chị Nguyễn Thị B nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, khoản nợ chung: không có, nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: về quan hệ tranh chấp chị Nguyễn Thị B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn, theo quy định tại khoản 1, Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Về thẩm quyền giải quyết vụ án: bị đơn có cư trú: thôn N, xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái.

  2. [2] Về sự vắng mặt của đương sự, bị đơn anh Hà Văn T đã được Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái tống đạt văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật nhưng anh T vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Chị Nguyễn Thị B có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử, xử vắng mặt chị B và anh T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. [3] Về quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị B và bị đơn anh Hà Văn T kết hôn tuân thủ các điều kiện kết hôn và thủ tục kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, do đó quan hệ hôn nhân giữa chị B và anh T là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Hội đồng xét xử nhận thấy vợ chồng chị B, anh T trong quá trình chung sống có nhiều mâu thuẫn xảy ra; nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm trong cuộc sống từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng rạn nứt trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết anh T có lời khai xác định vợ chồng đôi khi cũng phát sinh mâu thuẫn, nhưng không đến mức trầm trọng nên không đồng ý ly hôn, do đó, không có quan điểm gì về việc giải quyết nuôi con chung, tài sản chung và khoản nợ chung. Tuy nhiên, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần để giải quyết việc chị B xin ly hôn nhưng vẫn cố tình vắng mặt không lý do, như vậy thể hiện anh T không có nguyện vọng và biện pháp hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị B là có căn cứ phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.
  4. [4] Về con chung: chị Nguyễn Thị B và anh Hà Văn T có 02 (hai) con chung là Hà Như M, sinh ngày 08/3/2022 và Hà Như Q, sinh ngày 20/02/2024. Hiện cháu M đang ở cùng với anh Hà Văn T tại thôn N, xã V, thành phố M, còn cháu Q đang ở với chị Nguyễn Thị B cùng ông bà ngoại tại thôn E, xã H, thành phố M. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án anh T không trình bày quan điểm về con chung và vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiệp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như vắng mặt tại phiên tòa nên không thể hiện được quan điểm của mình về việc nuôi con, cấp dưỡng nuôi con chung. Vì vậy, giao con chung Hà Như M, Hà Như Q cho chị B trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi là phù hợp với lứa tuổi, giới tính và sự phát triển tâm sinh lý là hợp tình, hợp lý, phù hợp quy định tại Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận. Anh T có quyền yêu cầu về việc nuôi con chung bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
  5. [5] Về cấp dưỡng nuôi con chung chị Nguyễn Thị Bằng K yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, xét thấy đây là quyền định đoạt của chị B nên cần chấp nhận.
  6. [6] Anh Hà Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
  7. [7] Về tài sản chung, khoản nợ chung không có, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  8. [8] Về án phí: chị Nguyễn Thị B phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị B;

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị B được ly hôn anh Hà Văn T.
  2. Về con chung: giao con chung Hà Như M, sinh ngày 08/3/2022 và Hà Như Q, sinh ngày 20/02/2024 cho chị Nguyễn Thị B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.

    Về cấp dưỡng nuôi con chung: anh Hà Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí: chị Nguyễn Thị B phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0002320, ngày 08 tháng 01 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái; chị B đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Móng Cái;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND xã Vạn Ninh, TP. Móng Cái;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Nguyễn Thùy Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger