|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2025/DS - ST Ngày: 25 - 3 - 2025 |
|
|
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chỉnh.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Văn Thi.
- Ông Vũ Văn Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Trí Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân quận An Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận An Dương tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Hồng Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2025/QÐST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (N2); địa chỉ: Số B L, phường L, quận H, thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị Thanh H - Chủ tịch Hội đồng quản trị; người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Quốc H1 - Chuyên viên xử lý nợ (Giấy ủy quyền số 5384/2024/GUQ-BĐH.NCB ngày 08/8/2024; có mặt.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Đức N, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện A (nay là tổ dân phố B, phường T, quận A), thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị N1, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện A (nay là tổ dân phố B, phường T, quận A), thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 17/05/2022, anh Nguyễn Đức N và N2 ký Hợp đồng cho vay số: 214/22/HĐCV-9349 và ngày 01/6/2023 ký Văn bản sửa đổi bổ sung, đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ với nội dung: Anh N vay của N2 số tiền 1.800.000.000 đồng; mục đích vay: Thanh toán tiền mua nhà đất; thời hạn vay: Kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân lần đầu tiên đến ngày 01/11/2023; lãi suất cho vay được quy định chị tiết trong đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ. Tài sản bảo đảm cho khoản vay nói trên là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 426, tờ bản đồ số 03, địa chỉ xã T, huyện A (nay là phường T, quận A) đã được UBND huyện A (nay là quận A) cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số I 744186, số vào sổ cấp GCN: 02314 ngày 06/9/1997 đứng tên ông Nguyễn Văn S (Ngày 07/4/2022 đã thừa kế, tặng cho anh Nguyễn Đức N).
Sau khi ký hợp đồng, N2 đã giải ngân số tiền 1.800.000.000 đồng cho anh N theo khế ước nhận nợ. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh N đã trả được tổng số tiền là 426.469.235 đồng, sau đó không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho N2 làm phát sinh nợ quá hạn. Tính đến ngày 25/3/2025, anh N còn nợ N2 tổng số tiền là 2.286.492.242 đồng, trong đó nợ gốc là 1.747.999.990 đồng, nợ lãi trong hạn là 4.937.057 đồng, lãi quá hạn là 532.711.723 đồng, lãi chậm trả lãi là 843.472 đồng. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh Nguyễn Đức N phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền nói trên và số tiền lãi phát sinh theo lãi suất quá hạn được quy định trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp anh N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì NCB có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho N2, thì anh N vẫn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay. Anh N phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và án phí dân sự theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị N1 trình bày: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 426, tờ bản đồ số 03, địa chỉ xã T, huyện A (nay là phường T, quận A) là tài sản của anh N. Bà N1 là mẹ của anh N và chỉ là người ở trên đất. Bà N1 đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án tống đạt cho anh N và đã thông báo, giao ngay lại cho anh N. Nay Ngân hàng có yêu cầu khởi kiện đối với anh N, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, đồng thời bà xin được vắng mặt tại Tòa án do tuổi đã cao.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng đồng thời ra thông báo yêu cầu anh Nguyễn Đức N có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của N2, nhưng anh N không thực hiện.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ cho thấy: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 426, tờ bản đồ số 03, địa chỉ xã T, huyện A (nay là phường T, quận A) đã được UBND huyện A (nay là quận A) cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số I 744186, số vào sổ cấp GCN: 02314 ngày 06/9/1997 đứng tên ông Nguyễn Văn S (Ngày 07/4/2022 đã thừa kế, tặng cho anh Nguyễn Đức N). Tài sản này vẫn giữ nguyên hiện trạng không có thay đổi gì so với thời điểm thế chấp. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ hết 7.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận An Dương phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng theo quy định của pháp luật, từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử, thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật, bị đơn chấp hành chưa đầy đủ.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời khai của các đương sự và các tài liệu Tòa án thu thập thể hiện: Anh Nguyễn Đức N ký hợp đồng tín dụng vay NCB số tiền 1.800.000.000 đồng. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 426, tờ bản đồ số 03, địa chỉ xã T, huyện A (nay là phường T, quận A), thành phố Hải Phòng đã được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Văn S (Ngày 07/4/2022 đã thừa kế, tặng cho anh Nguyễn Đức N).
Hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản được ký kết giữa N2 và anh N đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên khi thực hiện hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng anh N đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi.
Căn cứ Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, 463, 466 Bộ luật Dân sự; Điều 9, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh Nguyễn Đức N phải trả cho N2 tổng số tiền tạm tính đến ngày 25/3/2025 là 2.286.492.242 đồng. Kể từ ngày 26/3/2025 cho đến khi thi hành xong số tiền phải trả, anh N còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh đối với số tiền nợ chưa trả theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp anh N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đúng thì NCB có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Về chi phí tố tụng: Anh N phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Về án phí: Anh N phải chịu cả án phí dân sự theo luật định, trả lại NCB tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa N2 và anh Nguyễn Đức N có nơi cư trú tại: Xã T, huyện A (nay là phường T, quận A), thành phố Hải Phòng. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng.
[2] Về thủ tục tố tụng tại Tòa: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[3] Về nội dung vụ án:
Về Hợp đồng tín dụng: Hợp đồng cho vay số: 214/22/HĐCV-9349 ngày 17/05/2022 và Văn bản sửa đổi bổ sung, đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 01/6/2023 được ký kết giữa N2 và anh Nguyễn Đức N đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về nội dung, hình thức. Các thỏa thuận trong hợp đồng đều phù hợp với quy định hiện hành nên là hợp đồng hợp pháp, do vậy làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh N không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng. Như vậy anh N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với N2.
Về tài sản thế chấp: Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, anh N đã dùng tài sản là quyền sử dụng 115m² đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 426, tờ bản đồ số 03, xã T, huyện A (nay là phường T, quận A), thành phố Hải Phòng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Văn S (Ngày 07/4/2022 đã thừa kế, tặng cho anh Nguyễn Đức N). Việc anh N dùng tài sản của mình để thế chấp đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về nội dung, hình thức nên là hợp đồng hợp pháp. Do vậy làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Nếu anh N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ thì N2 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
[4] Về số tiền phải trả:
Theo Hợp đồng cho vay số 214/22/HĐCV-9349 ngày 17/05/2022 và Văn bản sửa đổi bổ sung, đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 01/6/2023, anh N vay NCB số tiền 1.800.000.000 đồng; thời hạn vay: đến ngày 01/11/2023; lãi suất cho vay quy định cụ thể trong khế ước nhận nợ. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh N đã trả được tổng số tiền là 426.469.235 đồng, sau đó không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho N2 làm phát sinh nợ quá hạn. Tính đến ngày 25/3/2025, anh N còn nợ N2 tổng số tiền là 2.286.492.242 đồng, trong đó nợ gốc là 1.747.999.990 đồng, nợ lãi trong hạn là 4.937.057 đồng, lãi quá hạn là 532.711.723 đồng, lãi chậm trả lãi là 843.472 đồng.
Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc anh Nguyễn Đức N phải trả cho N2 tổng số tiền tạm tính đến ngày 25/3/2025 là 2.286.492.242 đồng. Anh N còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh đối với số tiền nợ chưa trả theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp anh N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ, thì NCB có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
[5] Về chi phí tố tụng (Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ): Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí này là 7.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng 7.000.000 đồng, nên bị đơn phải trả số tiền này cho nguyên đơn.
[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên Anh N phải chịu cả án phí dân sự sơ thẩm là: 72.000.000 đồng + (286.492.242 đồng x 2%) = 77.729.845 đồng. Trả lại NCB tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144, 147, 157, 158; khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 116, 117, 118, 119, 278, 280, 318, 319, 320; khoản 1 Điều 357, 463, 466, 468 và Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 16 Điều 4; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Căn cứ khoản 1 Điều 6; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q:
Buộc anh Nguyễn Đức N phải trả cho Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (25/3/2025) là: 2.286.492.242 đồng (Hai tỷ, hai trăm tám mươi sáu triệu, bốn trăm chín mươi hai nghìn, hai trăm bốn mươi hai đồng); trong đó nợ gốc là 1.747.999.990 đồng, lãi trong hạn là 4.937.057 đồng, lãi quá hạn là 532.711.723 đồng, lãi chậm trả lãi là 843.472 đồng.
Kể từ sau ngày tuyên án (26/3/2025) cho đến khi thi hành xong số tiền phải trả, anh N còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh đối với số tiền nợ chưa trả theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 214/22/HĐCV-9349 ngày 17/05/2022 và Văn bản sửa đổi bổ sung, đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 01/6/2023 cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ.
Trường hợp anh N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ, thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 155/22/HĐTC-9349 ngày 17/5/2022. Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng 115m² đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 426, tờ bản đồ số 03, địa chỉ xã T, huyện A (nay là phường T, quận A), thành phố Hải Phòng đã được UBND huyện A (nay là quận A) cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số I 744186, số vào sổ cấp GCN: 02314 ngày 06/9/1997 đứng tên ông Nguyễn Văn S (Ngày 07/4/2022 đã thừa kế, tặng cho anh Nguyễn Đức N). Nếu số tiền thu hồi được từ việc xử lý tài sản thế chấp sau khi thực hiện nghĩa vụ trả nợ còn thừa thì trả lại số tiền thừa cho anh N. Nếu không đủ trả nợ thì anh N có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ ngân hàng cho đến khi trả hết nợ.
- Về chi phí tố tụng (Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ): Anh Nguyễn Đức N phải trả cho Ngân hàng TMCP Q1 tiền 7.000.000 đồng (Bẩy triệu đồng).
- Về án phí: Anh Nguyễn Đức N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 77.729.845 đồng (Bẩy mươi bẩy triệu, bẩy trăm hai mươi chín nghìn, tám trăm bốn mươi lăm đồng). Trả lại Ngân hàng TMCP Q 36.602.000 đồng (Ba mươi sáu triệu, sáu trăm linh hai nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo Biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số: 0008567 ngày 08/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyên An Dương (nay là quận A), thành phố Hải Phòng.
- Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Chỉnh |
Bản án số 03/2025/DS - ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 03/2025/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Quốc Dân và anh Nguyễn Đức N.
