Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LÁT

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HS-ST

Ngày 25/03/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Gia Văn Tính và bà Ngô Thị Lan.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Nam - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát tham gia phiên tòa: Ông Phạm Viết Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 17/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 14/02/2025, quyết định hoãn phiên toà số 01/2025/HSST-QĐ ngày 26/02/2025 và Thông báo về việc mở lại phiên toà số 03/TB-TA ngày 11/3/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hàng Seo P, sinh năm 1983 tại T, M, Lào Cai. Nơi cư trú: Bản M, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; số CMND/Thẻ CCD/Hộ chiếu: [...], cấp ngày 26/12/2021, nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH; con ông Hàng A C (đã chết) và bà Vàng Thị M (đã chết); bị cáo có vợ là Vàng Thị D, sinh năm 1983 và có 05 con; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/10/2024, chuyển tạm giam từ ngày 30/10/2024 tại nhà tạm giữ Công an huyện M và Phân trại tạm giam khu vực Q thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh T cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hà Văn K – Trợ giúp viên pháp lý Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 1 – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T, có mặt.

- Người chứng kiến:

  1. Anh Trịnh Duy T, sinh năm 1988. Địa chỉ: Bản L, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.
  2. Chị Lương Thị C1, sinh năm 1988. Địa chỉ: Khu C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.
  3. Anh Vi Văn D1, sinh năm 1992. Cán bộ nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Thanh Hoá, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 15 phút ngày 27/10/2024, tổ công tác Đồn biên phòng T2 – Bộ đội Biên phòng tỉnh T thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát từ khu vực bản Ó, xã T, huyện M lên mốc Quốc giới B, đến khu vực ngã ba cách nhà văn hoá bản Ón khoảng 200m về hướng Đông Bắc thì phát hiện một người đàn ông đang điều khiển xe máy Wave Alpha có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma tuý, tổ công tác đã ra hiệu yêu cầu người này dừng lại để kiểm tra. Người đàn ông khai nhận tên là Hàng Seo P, sinh năm 1983, trú tại bản Muống 2, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Khi đang kiểm tra, tổ công tác phát hiện Hàng Seo Páo thả 01 (một) gói nilon màu đen từ tay trái xuống đường nơi P đang đứng, tổ công tác đã yêu cầu P nhặt lên để mở ra kiểm tra. Qua kiểm tra, bên trong gói nilon màu đen có chứa 04 (bốn) bọc nilon màu hồng, trong đó 01 (một) bọc chứa 02 (hai) viên nén, màu hồng, hình trụ tròn; 03 (bọc) còn lại chứa các cục bột dạng nén màu trắng. Hàng Seo P đã khai nhận số tang vật trên trên là ma tuý Heroine và viên Hồng phiến mà P vừa mua được ở bên Lào về để sử dụng, tổ công tác đã tạm giữ người và vật chứng có liên quan.

Quá trình điều tra Hàng Seo P khai nhận: Vào khoảng 15 giờ ngày 27/10/2024, P mượn xe máy của con trai tên là Hàng A Đ, có biển kiểm soát 36K1-09327, nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave@, màu xanh đen rồi một mình điều khiển xe máy đi từ nhà ở bản M, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa sang bản Ón, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa tìm mua ma túy về sử dụng. Khi P sang đến khu vực cột mốc biên giới thuộc địa giới hành chính bản Ón, xã T thì để xe ở lề đường rồi đi bộ theo đường mòn sang Lào tìm mua ma túy. Đi được một đoạn Páo thấy có một lán chòi thì đi vào, tại đây P gặp một người phụ nữ dân tộc M1 và hỏi mua ma tuý của người này, người này nói có và đồng ý bán cho P. Páo đưa số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), người phụ nữ cầm tiền rồi bán cho P 02 (hai) viên Hồng phiến và 02 (hai) cục M2, sau khi mua được ma túy P đã bẻ một phần từ một cục ma túy ra sử dụng, sử dụng ma túy xong P nhặt mảnh nilon màu hồng gói hai viên H phiến riêng; nửa cục ma túy còn lại của cục M2 P đã bẻ lấy một phần sử dụng Páo cũng gói lại bằng mảnh nilon màu hồng; cục ma túy còn lại Páo chia thành hai phần, mỗi phần đều gói lại bằng mảnh nilon màu hồng, sau đó gói tất cả các gói ma túy lại bằng một mảnh nilon màu đen. Gói ma túy xong P cầm gói ma túy ở tay trái rồi đi bộ theo đường mòn đến vị trí để xe máy lấy xe đi về nhà. Trên đường về P vẫn cầm gói ma túy ở tay trái, khi về đến khu vực gần nhà văn hóa bản Ón, xa T, huyện M thì gặp lực lượng Biên phòng dừng xe lại để kiểm tra, do lo sợ bị bắt nên P đã thả gói ma túy đang cầm ở tay trái xuống đường, ngay vị trí P dừng xe nhưng đã bị tổ công tác đã phát hiện bắt giữ.

Tại bản Kết luận giám định số: 4065/KL-KTHS ngày 29/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:

  • Các cục dạng nén màu trắng ngà của phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,545g (không phẩy năm bốn năm gam) loại: Heroine.
  • 02 (hai) viên nén hình trụ, màu hồng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,205g (không phẩy hai không năm gam) loại: Methamphetamine.

Về vật chứng thu giữ trong vụ án:

  • 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật là ma tuý còn lại sau giám định do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát.
  • 01 (một) xe máy Wave Alpha, màu xanh đen, nhãn hiệu Honda; xe mang BKS 36K1-09327; số khung RHIA 3920NY523938; số máy: JA39E2989398 (xe đã qua sử dụng). Qua điều tra xác định đây là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Hàng A Đ là con trai Hàng Seo P, khi P lấy xe máy đi mua ma tuý, Đ không biết và không có liên quan gì nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã trả lại chiếc xe máy cho Hàng A Điệp.
  • Đối với người phụ nữ bán ma tuý cho P, theo lời khai của P thì P không quen biết người này, không biết tên và địa chỉ rõ ràng. Quá trình mua bán ma tuý diễn ra ở ngoài lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đủ điều kiện để mở rộng điều tra.
  • Đối với đối tượng Giàng A S ở bản T, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóá, theo lời khai của P thì người này đã dẫn P đi mua ma tuý một lần trước khi bị bắt khoảng 10 ngày. Qua điều tra, xác minh của Cơ quan điều tra thể hiện không có tên người nào như lời khai của P do vậy không có căn cứ để xử lý.
  • Đối với Hàng A Đ là con trai Hàng Seo P và là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe máy biển kiểm soát 36K1-09327 mà Hàng Seo P sử dụng để đi mua ma túy. Việc P sử dụng xe máy đi mua ma tuý Đ không biết và không liên quan nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với Hàng A Đ.

Tại Bản cáo trạng số: 04/CT-VKS-ML ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá truy tố bị cáo Hàng Seo P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 16 đến 18 tháng tù.

Quá trình điều tra xác định bị cáo làm nghề trồng trọt, không có thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật là ma tuý còn lại sau giám định.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc diện hộ nghèo thuộc trường hợp được miễn án phí nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa: Đồng ý với tội danh mà Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố đối với bị cáo; thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên về việc đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo do bị cáo đã thành khẩn khai báo. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện chỉ để nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu cá nhân do bị cáo thiếu làm chủ, để bản thân sa vào tệ nạn xã hội nên mua ma tuý với mục đích để sử dụng, bị cáo là người dân tộc thiểu số, không biết chữ nên nhận thức pháp luật hạn chế do đó đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo mức án từ 14 đến 16 tháng tù thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm, đề nghị miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo thành khẩn nhận tội, bị cáo đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.

Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp nhất để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng như Kết luận giám định của Phòng K1 Công an tỉnh T. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 18 giờ 15 phút ngày 27/10/2024, tổ công tác Đồn Biên phòng T2 – Bộ đội Biên phòng tỉnh T đã kiểm tra, bắt quả tang Hàng Seo P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, vật chứng thu giữ gồm 04 (bốn) bọc nilon màu hồng, trong đó 01 (một) bọc chứa 02 (hai) viên nén, màu hồng, hình trụ tròn; 03 (bọc) còn lại chứa các cục bột dạng nén màu trắng. Hàng Seo P khai nhận số ma tuý trên P mua của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết ở nước CHDCND Lào rồi cất giấu mang về để sử dụng.

Tại Bản Kết luận giám định số: 4065/KL-KTHS ngày 29/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:

  • Các cục dạng nén màu trắng ngà của phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,545g (không phẩy năm bốn năm gam) loại: Heroine.
  • 02 (hai) viên nén hình trụ, màu hồng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,205g (không phẩy hai không năm gam) loại: Methamphetamine.

Tổng khối lượng hai chất ma túy thu giữ của Hàng Seo P là: 0,75g (không phẩy bảy lăm gam).

Hành vi của Hàng Seo P tàng trữ ma tuý trái phép gồm 02 chất ma tuý là H1 và Methamphetamine với tổng khối lượng là 0,75g đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và cũng đã nhận thức được ma túy là chất bị Nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ do những tác hại xấu đến đời sống kinh tế, xã hội cũng như sức khỏe của con người, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nhưng để thoả mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Để pháp luật được tôn trọng, trật tự an toàn xã hội được duy trì; để giáo dục người phạm tội, đấu tranh phòng ngừa tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hình sự.

[4]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo khi thực hiện hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình, thể hiện tính khoan hồng, nhận đạo của pháp luật để bị cáo yên tâm cải tạo, lao động trở thành công dân tốt.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, lao động tự do không có thu nhập ổn định, không có tài sản cá nhân, gia đình thuộc diện hộ nghèo, nếu áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo thì không bảo đảm khả năng thi hành án nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về vật chứng, tài sản thu giữ trong vụ án:

  • Đối với vật chứng là 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật là ma tuý còn lại sau giám định do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ;
  • Đối với tài sản thu giữ là 01 (một) xe máy Wave Alpha, màu xanh đen, nhãn hiệu Honda; xe mang BKS 36K1-09327; số khung RHIA 3920NY523938; số máy: JA39E2989398 (xe đã qua sử dụng) mang tên Hàng A Đ. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử anh Đ không có yêu cầu, đề nghị gì nên miễn xét.

[7]. Về án phí:

Bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiện đang sinh sống ở vùng có điều kiện Kinh tế- Xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo nên được miễn án phí.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Hàng Seo P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Bị cáo Hàng Seo P 17 (Mười bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 27/10/2024.

- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành, bên trong có ma tuý còn lại sau giám định, mặt trước có ghi vụ "Đồn BP Tam Chung TC04 ngày 27/10/2024", mặt sau được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ1, Lê Minh T1, Nguyễn Đình C2 và các hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh T.

Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát.

- Về án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 2, Điều 12, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - VKSND huyện Mường Lát;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Quan Hoá;
  • - UBND xã Mường Lý, huyện Mường Lát;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hoá;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ Tọa phiên tòa

Lê Văn Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 03/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HÀNG SEO P PHẠM TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger