Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/KDTM-ST
Ngày: 24-3-2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng mua
bán hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Hưởng.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Bồ Quốc Khánh;
  2. Ông Đoàn Văn Lước.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Minh Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Trương Anh Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 18/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 01/2025/TLST-KDTM ngày 15/01/2025 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-KDTM ngày 06 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV T; địa chỉ: Số A P, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Ánh X – Chức danh: Chủ tịch Công ty kiêm Giám đốc; ông Đậu Đức N, bà Nguyễn Thị Quỳnh H; cùng địa chỉ: Số G N, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện uỷ quyền (Văn bản ngày 28/11/2024). Có đơn xin vắng mặt/

Bị đơn: Công ty TNHH L; địa chỉ: Lô C, khu công nghiệp Đ - Khu A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương. Người đại diện hợp pháp: Bà Huang Mei H1 – Chức danh: Giám đốc; bà Lê Thị X1, năm 1984; địa chỉ : Số A khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện uỷ quyền (Văn bản ngày 20/3/2025). Có đơn xin vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Công ty TNHH MTV T (gọi tắt Công ty T) và Công ty TNHH L (gọi tắt là Công ty L) có quan hệ mua bán hàng hoá với nhau là các mặt hàng Mút vải. Từ

tháng 09/2022 đến tháng 09/2023, Công ty TNHH L có mua một số đơn hàng của Công ty TNHH MTV T, mỗi đơn hàng đều có xuất Hoá đơn giá trị gia tăng. Tuy nhiên, kể từ thời điểm mua hàng đến nay, phía Công ty L vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T. Cụ thể số tiền Công ty L còn nợ bao gồm:

  • Tháng 09/2022 nợ số tiền 65.318.400 đồng theo Hoá đơn giá trị gia tăng số 574 ngày 27/9/2022 và 24.494.400 đồng theo Hoá đơn giá trị gia tăng số 575 ngày 27/9/2022.
  • Tháng 10/2022 nợ số tiền 23.716.800 đồng theo Hoá đơn giá trị gia tăng số 648 ngày 22/10/2022.
  • Tháng 11/2022 nợ số tiền 23.716.800 đồng (theo Hoá đơn giá trị gia tăng số 827 ngày 28/11/2022 và 47.433.600 đồng theo Hoá đơn giá trị gia tăng số 828 ngày 28/11/2022.
  • Tháng 12/2022 nợ số tiền 23.716.800 đồng theo Hoá đơn giá trị gia tăng số 872 ngày 12/12/2022.
  • Tháng 02/2023 nợ số tiền 70.455.000 đồng theo Hoá đơn giá trị gia tăng số 95 ngày 24/02/2023.
  • Tháng 03/2023 nợ số tiền 54.351.000 đồng theo Hoá đơn giá trị gia tăng số 271 ngày 30/3/2023.
  • Tháng 04/2023 nợ số tiền 71.260.200 đồng theo Hoá đơn giá trị gia tăng số 395 ngày 27/4/2023.
  • Tháng 05/2023 nợ số tiền 112.728.000 đồng theo Hoá đơn giá trị gia tăng số 519 ngày 31/5/2023.
  • Tháng 06/2023 nợ số tiền 88.572.000 đồng theo Hoá đơn giá trị gia tăng số 647 ngày 30/6/2023.
  • Tháng 07/2023 nợ số tiền 69.174.000 đồng theo Hoá đơn giá trị gia tăng số 765 ngày 31/7/2023.
  • Tháng 08/2023 nợ số tiền 71.150.400 đồng theo Hoá đơn giá trị gia tăng số 890 ngày 30/8/2023.
  • Tháng 09/2023 nợ số tiền 67.197.600 đồng theo Hoá đơn giá trị gia tăng số 1020 ngày 29/9/2023.

Tổng số tiền Công ty L còn nợ Công ty T là: 813.285.000 đồng.

Công ty T đã nhiều lần liên hệ, gửi Bảng đối chiếu công nợ và yêu cầu Công ty L thanh toán tiền nợ mua hàng, tuy nhiên Công ty L vẫn không đồng ý trả tiền nợ mua hàng cho Công ty T. Nay công ty T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề như sau:

  • Buộc Công ty L phải thanh toán tiền nợ mua hàng hóa cho công ty T số tiền 813.285.000 đồng.
  • Buộc Công ty L phải thanh toán tiền lãi chậm trả cho Công ty T, thời gian tính lãi chậm trả kể từ ngày xuất hoá đơn giá trị gia tăng cho đến khi xét xử.

Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày: Công ty L và Công ty T có quan hệ mua bán hàng hoá với nhau. Hiện tại Công ty L còn nợ Công ty T số tiền hàng là 813.285.000 đồng. Công ty L đang khó khăn về tài chính chưa thanh toán được cho Công ty T. Trước yêu cầu của Công ty T thì Công ty L đồng ý trả nợ gốc, chỉ xin Công ty T không tính lãi chậm trả.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên toà sơ thẩm như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Các đương sự đều có tư cách pháp nhân, tranh chấp với nhau hợp đồng mua bán hàng hóa phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại và đều có mục đích lợi nhuận, bị đơn có trụ sở tại huyện B, Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên. Căn cứ Điều 30, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, giải quyết vắng mặt các đương sự.

[3] Về ký kết thực hiện hợp đồng: Các đương thừa nhận có quan hệ mua bán hàng hoá, bị đơn thừa nhận có nợ tiền hàng 813.285.000 đồng chưa thanh toán. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán nợ gốc số tiền 813.285.000 đồng là có cơ sở.

[4] Về tiền lãi do chậm thanh toán: Bị đơn chưa thanh toán tiền hàng cho nguyên đơn nên phải chịu khoản tiền lãi do chậm thanh toán. Các đương sự không có thoả thuận thời hạn thanh toán, theo quy định tại khoản 1 Điều 55 của Luật Thương mại thì thời điểm thanh toán là thời điểm bên bán giao hàng hoặc chứng từ liên quan hàng hoá, do vậy nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ ngày xuất hoá đơn là phù hợp. Theo quy định tại Điều 306 của Luật Thương mại, mức lãi suất để tính là lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường. Căn cứ mức lãi suất nợ quá hạn của các ngân hàng công bố trên website gồm: Ngân hàng N1 10,05%/năm, Ngân hàng Đ là 8,505%/năm và Ngân hàng N2 là 8,55%/năm thì mức lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường là 9,035%/năm.

[5] Từ những phân tích, nhận định nêu trên xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.

[6] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 257, Điều 266, Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Điều 50, Điều 55, Điều 306 của Luật Thương mại;
  • Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV T về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” với bị đơn Công ty TNHH L:

Buộc Công ty TNHH L phải thanh toán cho Công ty TNHH MTV T 945.363.591 đồng (Chín trăm bốn mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi ba nghìn năm trăm chín mươi mốt đồng) gồm nợ gốc 813.285.000 đồng và lãi chậm trả là 132.078.591 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí sơ thẩm:

  • Buộc Công ty TNHH L phải chịu 40.361.000 đồng (Bốn mươi triệu ba trăm sáu mươi mốt nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
  • Trả lại cho Công ty TNHH MTV T tiền tạm ứng án phí 20.168.188 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003949 ngày 14/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Bắc Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Tân Uyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT, HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đình Hưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/KDTM-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 03/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thuy Tuong Long Hao
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger