TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2025/KDTM-ST Ngày 19-3-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Xuyến;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Bình,
Ông Phạm Văn Tiến.
- Thư ký phiên toà: Bà Trương Thị Thúy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nguyện – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 10/2024/TLST-KDTM ngày 19 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-KDTM ngày 19 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N2 (A1), địa chỉ trụ sở chính: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Đình T, chức vụ: Giám đốc A1 Chi nhánh V1 (theo Văn bản uỷ quyền số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022). Người được uỷ quyền lại: Ông Vũ Mạnh C, chức vụ: Phó Giám đốc A1 Chi nhánh V1 - Đ (theo Văn bản ủy quyền số: 24/QĐ-NHNo-VLĐHP ngày 02/01/2025); có mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1972 và bà Phạm Thị T2, sinh năm 1974, cùng nơi cư trú: Thôn X, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Văn N (tên gọi khác: T3), sinh năm 1975 và bà Vũ Thị N1, sinh năm 1977, cùng nơi cư trú: Thôn X, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
+ Cháu Phạm Thị C1, sinh năm 2010 và Phạm Văn Đ, sinh năm 2012, cùng nơi cư trú: Thôn X, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng. Người đại diện hợp pháp của cháu C1, cháu Đ: Ông Phạm Văn T1 và bà Phạm Thị Tuyết . Cháu C1 và Đ vắng mặt; ông T1 và bà T2 có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn là Ngân hàng N2 (A1) do ông Vũ Mạnh C, chức vụ: Phó Giám đốc A1 Chi nhánh V1 – Đông Hải P diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 30/6/2023 A1 cho vợ chồng ông Phạm Văn T1, bà Phạm Thị T2 vay số tiền 800.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 2117-LAV-2023.00753, thời hạn vay 01 năm kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên (là ngày 30/6/2023); mục đích vay: Kinh doanh nội thất; phương thức vay: Từng lần; lãi suất cho vay 9%/năm tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; lãi chậm trả 0%.
Để bảo đảm cho khoản vay, vợ chồng ông T1, bà T2 và A1 đã ký Hợp đồng thế chấp số 230/2021/HĐTC ngày 20/5/2021 và Văn bản thoả thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 230/2021/SĐBS ngày 04/10/2021; theo đó, ông T1, bà T2 thế chấp cho Al quyền sử dụng thửa đất số 195 tờ bản đồ 06, diện tích 193m² và tài sản trên đất là nhà ở 01 tầng xây kiên cố, có công trình phụ, kết cấu tường chịu lực, mái bê tông cốt thép, diện tích xây dựng 50m², địa chỉ: Thôn X, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 561313, vào sổ cấp giấy chứng nhận số H 01370 ngày 09/12/2009 cho hộ ông Phạm Văn T1 và bà Phạm Thị Tuyết . Đăng ký thế chấp ngày 21/5/2021 tại Văn phòng Đ1 Chi nhánh huyện T.
Quá trình thực hiện hợp đồng, do ông T1, bà T2 không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo cam kết trong hợp đồng tín dụng nên khoản vay chuyển quá hạn từ ngày 01/7/2024. A1 đã đôn đốc nhiều lần nhưng ông bà vẫn không thực hiện trả nợ theo cam kết, do đó Al đã khởi kiện đòi nợ ông T1, bà T2. Sau phiên hòa giải tại Tòa án, ông T1, bà T2 đã trả được số tiền gốc là 260.000.000 đồng. Tính đến ngày 19/3/2025, ông T1, bà T2 còn nợ A1 số tiền là 682.939.727 đồng; trong đó nợ gốc là 540.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 68.449.315 đồng, nợ lãi quá hạn là 74.490.412 đồng.
Al yêu cầu Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng: Buộc ông T1, bà T2 phải trả Al toàn bộ số nợ tạm tính đến ngày 19/3/2025 là 682.939.727 đồng; trong đó nợ gốc là 540.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 68.449.315 đồng, nợ lãi quá hạn là 74.490.412 đồng và phải tiếp tục trả lãi theo lãi suất quy định trong hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết đến khi trả hết các khoản nợ A1.
Trường hợp ông T1, bà T2 không trả nợ cho A1 thì Al có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại toàn bộ tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 195 tờ bản đồ 06, diện tích 193m² và tài sản gắn liền với đất là nhà ở 01 tầng xây kiên cố, có công trình phụ, kết cấu tường chịu lực, mái bê tông cốt thép (BTCT), diện tích xây dựng 50m², địa chỉ: Thôn X, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 561313, vào sổ cấp giấy chứng nhận số H 01370 ngày 09/12/2009 cho hộ ông Phạm Văn T1 và bà Phạm Thị T2 theo Hợp đồng thế chấp số 230/2021/HĐTC ngày 20/5/2021 và Văn bản thoả thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 230/2021/SĐBS ngày 04/10/2021 để thu hồi nợ cho A1. Trường hợp tài sản phát mại không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông thuy, bà T2 vẫn phải trả hết khoản nợ A1.
A1 không biết việc ông T1, bà T2 chuyển nhượng một phần thửa đất cho vợ chồng ông N, bà N1 khi thửa đất đang thế chấp tại ngân hàng để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của ông bà. Quá trình ký kết các hợp đồng tín dụng, thế chấp, giải ngân và việc trả nợ đều được thực hiện giữa A1 với ông T1, bà T2, không liên quan đến vợ chồng ông N, bà N1. Do đó, các bên trong giao dịch chuyển nhượng phải tự thỏa thuận giải quyết với nhau, trường hợp không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
- Bị đơn là ông Phạm Văn T1 và bà Phạm Thị T2 thống nhất trình bày:
Ông T1, bà T2 xác nhận về thời gian và nội dung hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản, thời gian và số tiền giải ngân nội dung trình bày của A1. Tính đến ngày 19/3/2025, ông bà còn nợ A số tiền là 682.939.727 đồng; trong đó nợ gốc là 540.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 68.449.315 đồng, nợ lãi quá hạn là 74.490.412 đồng. Ông bà đồng ý trả nợ, tuy nhiên do công việc làm ăn gặp khó khăn nên ông bà chưa tất toán ngay khoản nợ cho Al theo cam kết, đề nghị A1 tạo điều kiện cho ông bà trả nợ dần. Trường hợp không trả được nợ như thoả thuận, ông bà đồng ý phát mãi tài sản thế chấp là toàn bộ thửa đất số 195 tờ bản đồ 06, diện tích 193m² và tài sản gắn liền với đất để thu hồi nợ cho A1.
Trong thời gian thế chấp thửa đất số 195 tờ bản đồ 06, diện tích 193m² và tài sản gắn liền với đất tại A1, ông T1, bà T2 đã chuyển nhượng một phần thửa đất diện tích khoảng 70,8m² cho vợ chồng ông N, bà N1, giá 380.000.000 đồng và thỏa thuận, khi nào ông T1, bà T2 trả hết nợ ngân hàng, ông T1 bà T2 nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các bên sẽ hoàn thiện thủ tục chuyển nhượng đất. Vợ chồng ông N, bà N1 biết rất rõ việc thửa đất đang thế chấp tại ngân hàng nhưng vẫn đồng ý nhận chuyển nhượng. Al không biết; vợ chồng ông T1 bà T2, vợ chồng ông N bà N1 không thông báo cho Al biết việc chuyển nhượng một phần thửa đất. Các bên chỉ viết giấy chuyển nhượng đất với nhau, không qua chính quyền địa phương và cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chưa hoàn thiện thủ tục chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. Do việc chuyển nhượng tài sản không phù hợp quy định của pháp luật nên ông T1 bà T2 không yêu cầu Toà án giải quyết giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong vụ án này; ông bà tự thỏa thuận giải quyết với vợ chồng ông N bà N1; trường hợp không thỏa thuận được, ông bà sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn N (tên gọi khác là T3), bà Vũ Thị N1: Thống nhất xác nhận, có việc ông N bà N1 nhận chuyển nhượng diện tích đất 70,8m² thuộc thửa đất số 195 tờ bản đồ 06 của vợ chồng ông T1 bà T2 khi thửa đất đang được vợ chồng ông T1 bà T2 thế chấp tại ngân hàng để vay tiền như ông T1 bà T2 trình bày. Vợ chồng ông N bà N1 biết rõ việc thửa đất đang được thế chấp tại ngân hàng nhưng không thông báo cho ngân hàng biết việc chuyển nhượng đất. Các bên chỉ lập văn bản viết tay, không làm thủ tục chuyển nhượng, đăng ký biến động chuyển nhượng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Giá chuyển nhượng là 380.000.000 đồng, vợ chồng ông N đã trả ông T1 bà T2 300.000.000 đồng, còn nợ 80.000.000 đồng và thỏa thuận, khi nào vợ chồng ông T1 bà T2 trả hết nợ ngân hàng, nhận lại bìa đỏ thì vợ chồng ông N trả nốt số tiền còn thiếu và các bên hoàn thiện thủ tục chuyển nhượng, đăng ký biến động chuyển nhượng cho vợ chồng ông N. Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông T1 bà T2 trả nợ, vợ chồng ông N bà N1 đề nghị ông T1 bà T2 trả nợ, tất toán toàn bộ khoản nợ cho ngân hàng, nhận lại bìa đỏ về để hoàn thiện thủ tục chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông N theo đúng thỏa thuận giữa hai bên. Trường hợp ông T1 bà T2 không trả được nợ dẫn đến phải phát mại tài sản là thửa đất số 195 tờ bản đồ 06 trong đó có phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông N, vợ chồng ông N đồng ý yêu cầu của ngân hàng về việc phát mại toàn bộ thửa đất để thu hồi nợ cho ngân hàng. Về giao dịch chuyển nhượng đất, vợ chồng ông N sẽ tự thỏa thuận giải quyết với vợ chồng ông T1, trường hợp không thỏa thuận được, ông bà sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật và ông yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Sau khi nhận chuyển nhượng đất, vợ chồng ông N không tạo lập, xây dựng thêm tài sản trên đất.
- Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thể hiện:
Thửa đất số 195 tờ bản đồ 06, diện tích 193m2, địa chỉ: Thôn X, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 561313, vào sổ cấp giấy chứng nhận số H 01370 ngày 09/12/2009 cho hộ ông Phạm Văn T1 và bà Phạm Thị T2, có vị trí: Phía Bắc giáp đất hộ ông Phạm Huy T4 và đất hộ bà Nguyễn Thị S; phía Nam giáp đất hộ ông Phạm Văn L (ngoài diện tích đất theo giấy chứng nhận, vợ chồng ông T1 đang sử dụng một phần đất thuộc thửa đất của ông L, theo thỏa thuận cho sử dụng đất giữa bố ông L là ông Phạm Hồng Q với ông T1, vị trí bếp và khu phụ của gia đình ông T1); phía Đông giáp ngõ xóm (rộng TB 03m); phía Tây giáp trạm biến áp và đường trục xã (lưu không đường 09m). Tài sản gắn liền với đất gồm 01 nhà ở 01 tầng lợp tôn mạ màu, diện tích khoảng 40m², vị trí nhà giáp ngõ xóm; 01 lán lợp tôn chống nóng, vách nhựa, trần nhựa, diện tích 36m²; 01 nhà 01 mái lợp broximang, diện tích 11m², 01 nhà một tầng lợp tôn chống nóng hiện đang làm xưởng gỗ, diện tích 60m²;
Phần diện tích đất ông T1, bà T2 đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông N có vị trí: Phía Bắc giáp trạm biến áp và giáp phần đất còn lại của thửa đất số 195 ông T1 đang sử dụng, ranh giới là tường công trình; phía Nam giáp đất hộ ông Phạm Văn L; phía Đông giáp phần đất còn lại của thửa đất số 195 ông T1 đang sử dụng; phía Tây giáp đường trục xã. Trên đất có 01 phần nhà 01 tầng lợp broximang diện tích khoảng 28m² và 01 phần nhà 01 tầng mái lợp tôn mạ màu diện tích khoảng 17m² (hai phần nhà này thông nhau, không có tường ngăn).
Ủy ban nhân dân xã B và cơ sở thôn X không biết, không được thông báo về thỏa thuận chuyển nhượng đất giữa vợ chồng ông T1 với vợ chồng ông N. Việc sử dụng đất của vợ chồng ông T1 đối với thửa đất số 195 tờ bản đồ 06 không có tranh chấp với các chủ sử dụng đất liền kề.
- Tại phiên tòa: Nguyên đơn (Al) do ông Vũ Mạnh C đại diện theo ủy quyền giữ nguyên yêu cầu về việc: Buộc vợ chồng ông T1, bà T2 phải trả A2 toàn bộ số nợ tạm tính đến ngày 19/3/2025 là 682.939.727 đồng; trong đó nợ gốc là 540.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 68.449.315 đồng, nợ lãi quá hạn là 74.490.412 đồng và phải tiếp tục trả lãi theo lãi suất quy định trong hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết đến khi trả hết các khoản nợ cho A1. Nếu ông T1, bà T2 không trả nợ thì Al có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại toàn bộ tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 195 tờ bản đồ 06, diện tích 193m² và tài sản gắn liền với đất, địa chỉ: Thôn X, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 561313, vào sổ cấp giấy chứng nhận số H 01370 ngày 09/12/2009 cho hộ ông Phạm Văn T1 và bà Phạm Thị T2 theo Hợp đồng thế chấp số 230/2021/HĐTC ngày 20/5/2021 và Văn bản thoả thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 230/2021/SĐBS ngày 04/10/2021 để thu hồi nợ cho A1. Trường hợp số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông T1, bà T2 phải tiếp tục trả hết khoản nợ A1. Bị đơn (ông T1, bà T2) giữ nguyên quan điểm đồng ý trả nợ, nhưng đề nghị được trả dần. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông N, bà N1) không thay đổi ý kiến.
Ý kiến của Kiểm sát viên:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án đã tiến hành tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp và tư cách tham gia tố tụng; thu thập tài liệu chứng cứ, mở phiên họp, hòa giải và phiên tòa đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự, người tham gia tố tụng khác đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Căn cứ khoản 16 Điều 4; khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các điều 280, 298, 299, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 500, 502 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 95 Luật Đất đai năm 2013; khoản 5 Điều 3, Điều 10, Điều 22 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N2 (A1): Buộc vợ chồng ông Phạm Văn T1, bà Phạm Thị T2 phải trả A2 toàn bộ số tiền nợ tạm tính đến ngày 19/3/2025 là 682.939.727 đồng (gồm nợ gốc là 540.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 68.449.315 đồng, nợ lãi quá hạn là 74.490.412 đồng) và phải tiếp tục trả lãi theo lãi suất quy định trong hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết đến khi trả hết các khoản nợ A1. Trường hợp ông T1, bà T2 không trả nợ thì Al có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại toàn bộ tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 195 tờ bản đồ 06, diện tích 193m² và tài sản gắn liền với đất, địa chỉ: Thôn X, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 561313, vào sổ cấp giấy chứng nhận số H 01370 ngày 09/12/2009 cho hộ ông Phạm Văn T1 và bà Phạm Thị T2 theo Hợp đồng thế chấp số 230/2021/HĐTC ngày 20/5/2021 và Văn bản thoả thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 230/2021/SĐBS ngày 04/10/2021 để thu hồi nợ cho A1. Trường hợp số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông T1, bà T2 vẫn phải tiếp tục trả hết nợ cho A1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại (tranh chấp hợp đồng tín dụng) giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Bị đơn là vợ chồng ông T1 bà T2 có nơi cư trú tại: Thôn X, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cháu Phạm Thị C1, cháu Phạm Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện hợp pháp là ông T1, bà T2 tham gia phiên tòa. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt cháu C1, cháu Đ.
[3] Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 2117-LAV-2023.00753 ngày 30/6/2023; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 230/2021/HĐTC ngày 20/5/2021; Văn bản thoả thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 230/2021/SĐBS ngày 04/10/2021; các báo cáo đề xuất giải ngân kiêm nhận nợ ngày 30/6/2023 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định: Ngày 30/6/2023 A1 cho vợ chồng ông T1, bà T2 vay số tiền 800.000.000 đồng, thời hạn vay 01 năm kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên (là ngày 30/6/2023); mục đích vay: Kinh doanh đồ gỗ, nội thất; phương thức vay: Từng lần; lãi suất cho vay 09%/năm tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; lãi chậm trả 0%. Để bảo đảm cho khoản vay, ông T1, bà T2 đã thế chấp tài sản quyền sử dụng thửa đất số 195 tờ bản đồ 06, diện tích 193m² và tài sản trên đất tại địa chỉ: Thôn X, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 561313, vào sổ cấp giấy chứng nhận số H 01370 ngày 09/12/2009 cho hộ ông Phạm Văn T1 và bà Phạm Thị T2; đăng ký thế chấp ngày 21/5/2021 tại Văn phòng Đ1 Chi nhánh huyện T.
[4] Tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; văn bản thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp, các để xuất giải ngân kiêm nhận nợ nêu trên, các bên chủ thể hợp đồng đều có đầy đủ thẩm quyền, năng lực trách nhiệm dân sự, hoàn toàn tự nguyện; mục đích và nội dung thỏa thuận không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của luật. Hợp đồng tín dụng số 2117-LAV-2023.00753 ngày 30/6/2023 có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các điều 116, 117, 119 Bộ luật Dân sự. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 230/2021/HĐTC ngày 20/5/2021 và Văn bản thoả thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 230/2021/SĐBS ngày 04/10/2021 đã được chứng thực, đăng ký giao dịch bảo đảm; có nội dung và hình thức phù hợp quy định tại các điều 298, 317, 500, 501, 502 của Bộ luật Dân sự; Điều 95 Luật Đất đai năm 2013; khoản 5 Điều 3, Điều 10, Điều 22 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Do đó các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; văn bản thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp nêu trên có hiệu lực pháp luật, các bên thực hiện quyền, nghĩa vụ đúng thỏa thuận trong các hợp đồng, theo quy định tại các điều 319, 320, 321, 322, 323 của Bộ luật Dân sự.
[5] Quá trình thực hiện hợp đồng, Al đã giải ngân cho ông T1 bà T2 vay số tiền 800.000.000 đồng là thực hiện đúng cam kết; ông T1 bà T2 không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ là vi phạm thỏa thuận đã ký kết giữa các bên trong hợp đồng tín dụng. Yêu cầu khởi kiện của A1 về việc buộc vợ chồng ông T1, bà T2 trả nợ là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 nên cần được chấp nhận, xử buộc vợ chồng ông T1, bà T2 phải trả A2 toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 19/3/2025 là 682.939.727 đồng (gồm nợ gốc là 540.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 68.449.315 đồng, nợ lãi quá hạn là 74.490.412 đồng) và phải tiếp tục trả lãi theo lãi suất quy định trong hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết đến khi trả hết các khoản nợ A1.
[6] Về xử lý tài sản thế chấp:
Thửa đất số 195 tờ bản đồ 06, diện tích 193m² và tài sản trên đất tại địa chỉ: Thôn X, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 561313, vào sổ cấp giấy chứng nhận số H 01370 ngày 09/12/2009 cho hộ ông Phạm Văn T1 và bà Phạm Thị T2 là tài sản hợp pháp của ông T1, bà T2 do được bố mẹ ông T1 chia cho sử dụng năm 2008.
Việc vợ chồng ông T1 chuyển nhượng diện tích đất 70,8m² thuộc thửa đất số 195 cho vợ chồng ông N khi thửa đất đang được thế chấp tại A1 để bảo đảm khoản vay của vợ chồng ông T1 nhưng không thông báo cho Al biết là vi phạm quy định tại Điều 320 của Bộ luật Dân sự và cam kết giữa các bên tại Điều 5 của Hợp đồng thế chấp. Tuy nhiên, khi chuyển nhượng một phần thửa đất cho vợ chồng ông N, hai bên chỉ thỏa thuận khi nào ông T1 bà T2 trả hết nợ A1, lấy bìa đỏ, các bên sẽ hoàn thiện thủ tục chuyển nhượng; quá trình giải quyết vụ án, vợ chồng ông N bà N1, vợ chồng ông T1 bà T2 đều thống nhất đồng ý phát mại tài sản thế chấp là toàn bộ thửa đất 195 tờ bản đồ 06 để thu hồi nợ cho A1, nếu ông T1 bà T2 không trả được nợ A1. Các ông bà xin tự thoả thuận giải quyết quan hệ chuyển nhượng đất, trường hợp không thỏa thuận được sẽ khởi kiện bằng vụ án khác mà không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện, hiện trạng thửa đất số 195 tờ bản đồ 06 không thay đổi về ranh giới, mốc giới so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thời điểm ký kết hợp đồng thế chấp và văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp; vợ chồng ông N không xây dựng thêm tài sản trên phần đất nhận chuyển nhượng. Do đó cần chấp nhận quan điểm của ông N bà N1, ông T1 bà T2, không giải quyết giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong vụ án này; trường hợp các bên không thỏa thuận được thì sẽ khởi kiện vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Xét thấy, khoản tiền vợ chồng ông T1 phải trả A1 là khoản vay có bảo đảm; hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất các bên đã ký kết phù hợp quy định của pháp luật; yêu cầu của Al về việc xử lý tài sản thế chấp là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật Dân sự nên cần chấp nhận. Trong trường hợp ông T1, bà T2 không trả được nợ cho Al thì Al có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại toàn bộ tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 195 tờ bản đồ 06, diện tích 193m² và tài sản gắn liền với đất, địa chỉ: Thôn X, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 561313, vào sổ cấp giấy chứng nhận số H 01370 ngày 09/12/2009 cho hộ ông Phạm Văn T1 và bà Phạm Thị T2 theo Hợp đồng thế chấp số 230/2021/HĐTC ngày 20/5/2021 và Văn bản thoả thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 230/2021/SĐBS ngày 04/10/2021 để thu hồi nợ cho A1. Nếu số tiền thu được từ việc bán, xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán khoản nợ thì ông T1 bà T2 vẫn phải tiếp tục trả hết nợ cho A1; nếu còn thừa thì ông T1 bà T2 được nhận lại.
[7] Về án phí và chi phí tố tụng khác:
Do yêu cầu khởi kiện của A1 được chấp nhận toàn bộ nên vợ chồng ông T1 bà T2 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm bằng [20.000.000 + 4% (682.939.727 – 400.000.000)] làm tròn là 31.317.500 đồng, theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Al không phải chịu án phí nên được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng.
Vợ chồng ông T1 bà T2 phải chịu toàn bộ khoản tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng, theo quy định tại khoản 1 Điều 156 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, A1 đã nộp 5.000.000 đồng nên cần buộc ông T1 bà T2 phải trả A1 số tiền này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các điều 116, 117, 119, 280, 298, 299, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 500, 502 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 95 Luật Đất đai năm 2013; khoản 5 Điều 3, Điều 10, Điều 22 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N2 (A1):
- Buộc vợ chồng ông Phạm Văn T1, bà Phạm Thị T2 phải trả A1 số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (19/3/2025) là 682.939.727 (Sáu trăm tám mươi hai triệu chín trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm hai mươi bảy) đồng, gồm nợ gốc là 540.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 68.449.315 đồng, nợ lãi quá hạn là 74.490.412 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, vợ chồng ông T1 bà T2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 2117-LAV-2023.00753 ngày 30/6/2023.
- Trường hợp vợ chồng ông T1 bà T2 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Al có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 195 tờ bản đồ 06, diện tích 193m² và tài sản gắn liền với đất, địa chỉ: Thôn X, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 561313, vào sổ cấp giấy chứng nhận số H 01370 ngày 09/12/2009 cho hộ ông Phạm Văn T1 và bà Phạm Thị T2, theo Hợp đồng thế chấp số 230/2021/HĐTC ngày 20/5/2021 và Văn bản thoả thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 230/2021/SĐBS ngày 04/10/2021 để thu hồi nợ cho A1. Nếu số tiền thu được từ việc bán, xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán khoản nợ thì ông T1, bà T2 vẫn phải tiếp tục trả hết nợ cho A1; nếu còn thừa thì ông T1, bà T2 được nhận lại.
2. Về án phí và chi phí tố tụng khác:
- Vợ chồng ông T1 bà T2 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 31.317.500 (Ba mươi mốt triệu ba trăm mười bảy nghìn năm trăm) đồng.
- Trả lại A1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng là 9.798.000 (Chín triệu bảy trăm chín mươi tám nghìn) đồng, theo Biên lai thu số 0009150 ngày 15/11/2024.
- Buộc vợ chồng ông T1 bà T2 phải trả A1 5.000.000 (Năm triệu) đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
3. Không giải quyết giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông T1 bà T2 với vợ chồng ông Nguyễn Văn N, bà Vũ Thị N1 trong vụ án này do các đương sự không yêu cầu.
4. Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
5. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Xuyến |
Bản án số 03/2025/KDTM-ST ngày 19/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 03/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng NH A và Phạm Văn Th
