TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 19-3-2025.
V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Sắc.
- Ông Trần Thanh Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bé Thơ – Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 111/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị C, sinh năm: 2000 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện T, tỉnh Long An.
Bị đơn: Ông Trương Văn Linh T, sinh năm: 1995 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 12 tháng 6 năm 2024, biên bản ghi lời khai và tại phiên toà nguyên đơn bà Huỳnh Thị C trình bày:
Bà và ông Linh T có tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Long An vào ngày 29/7/2019. Quá trình chung sống thì vợ chồng bà có 01 con chung tên Trương Huỳnh A, sinh ngày: 21/5/2020, giới tính: nữ. Thời gian sau khi kết hôn bà và ông T chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng thời gian sau này giữa bà và ông T thường phát sinh mâu thuẫn, bất đồng ý kiến dẫn đến gây gổ với nhau, ông T thường xuyên uống rượu, ngược đãi bà có tiền tự tiêu xài cho bản thân không lo cho gia đình, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nữa nay bà không thể tiếp tục sống chung với ông T, bà và ông T đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2024. Hiện nay con chung đang sống cùng bà.
Nay mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, nên bà xin được ly hôn với ông Trương Văn Linh T.
Về con chung: Bà C yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Trương Huỳnh A, sinh ngày: 21/5/2020, giới tính: nữ .
Về cấp dưỡng: Bà C không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn Trương Văn Linh T vắng mặt nhưng có ý kiến trình bày:
Ông T thống nhất về tình trạng kết hôn và con chung, nhưng ông cho rằng mâu thuẫn của vợ chồng chỉ cự cãi không đến mức trầm trọng để ly hôn và vợ ông đã bỏ đi làm ăn xa, không liên lạc với ông, ông về bên cha, mẹ ruột ở, con chung thì bà ngoại trông nom, ông cũng có đến thăm con. Nhưng trường hợp bà C cương quyết ly hôn thì ông yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con chung, ông không yêu cầu bà C cấp dưỡng nuôi con.
Ông Trương Văn Linh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến làm thủ tục hòa giải nhưng không đến, Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng tiến hành làm thủ tục xét xử vắng mặt ông T.
Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải giữa các đương sự nhưng không tiến hành hòa giải được.
Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án, không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán là đúng theo quy định; Hội đồng xét xử đều đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Vợ chồng bà C và ông T có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Nay bà C nhận thấy mối quan hệ giữa bà và ông T có nhiều mâu thuẫn, bất đồng ý kiến dẫn đến gây gổ với nhau, ông T có hành vi đánh đập bà, ông T không quan tâm, chăm sóc gia đình, đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc, không có khả năng đoàn tụ, hơn nữa bà C và ông T đã sống ly thân từ tháng 06/2024 đến nay nên yêu cầu của bà C về việc ly hôn với ông T là có căn cứ chấp nhận theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
Về con chung: Bà C yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trương Huỳnh A, sinh ngày: 21/05/2020, giới tính: nữ là có cơ sở chấp nhận vì: từ khi ly thân bà C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Huỳnh A và cháu Huỳnh A được bà C chăm sóc nuôi dưỡng đảm bảo vật chất lẫn tinh thần. Hơn nữa, bà C có thu nhập ổn định đảm bảo nuôi dưỡng con. Do đó, yêu cầu của bà C có căn cứ chấp nhận theo Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng: Bà C không yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà C không yêu cầu nên không xem xét.
Đối với ý kiến của ông T: Ông T không đồng ý ly hôn với bà Huỳnh Thị C và yêu cầu được quyền nuôi con chung tên Trương Huỳnh A, sinh ngày: 21/05/2020, giới tính: nữ là không có cơ sở chấp nhận vì: giữa ông và bà C đã phát sinh mâu thuẫn bất đồng quan điểm dẫn đến gây gỗ với nhau, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, hơn nữa bà C cương quyết ly hôn nên không có khả năng đoàn tụ, từ khi ly thân thì bà C là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Huỳnh A ổn định về vật chất lẫn tinh thần. Do đó, không chấp nhận yêu cầu của ông T.
Từ những nhận định trên, căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng thụ lý và giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại các Điều 26, 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án, ông Trương Văn Linh T có đến trình bày ý kiến, sau Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng ông không đến, Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản cho ông T, nhưng ông T vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà C với ông T là hợp pháp. Quá trình chung sống do hai bên phát sinh mâu thuẫn, cha mẹ hai bên đã nhiều lần hòa giải đoàn tụ nhưng không được, bà C kiên quyết ly hôn với ông T, Tòa án đã thụ lý tiến hành hòa giải cho đoàn tụ và kéo dài thời gian nhưng đúng theo quy định pháp luật để ông T có điều kiện tự điều chỉnh mâu thuẫn và có phương pháp đoàn tụ, nhưng ông T không có phương pháp giải quyết mâu thuẫn để đoàn tụ gia đình, Tòa án đã triệu tập nhiều lần cho ông T đến để hòa giải đoàn tụ, nhưng ông T không đến nghĩa là ông T không quan tâm đến hôn nhân của ông và bà C. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà C với ông T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà C yêu cầu được ly hôn với ông T là có căn cứ theo các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng bà C, ông T có 01 con chung tên Trương Huỳnh A, sinh ngày: 21/5/2020, giới tính: nữ. Bà C yêu cầu được quyền nuôi con chung, hiện nay cháu Huỳnh A đang sống với bà C. Xét thấy, cháu đang sống với mẹ, cháu là nữ và bà C có thu nhập ổn định nên đảm bảo vật chất và tinh thần cho con chung. Đối với ông T, tại phiên tòa không đến để trình bày ý kiến của mình, Hội đồng xét xử không nắm được ý kiến của ông có xin nuôi con hay không như ý kiến lời khai của ông. Như vậy, yêu cầu nuôi con chung của bà C là có căn cứ.
- Về cấp dưỡng: Bà C không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập đến.
- Về tài sản và nợ chung: Bà C không yêu cầu nên Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
- Đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng là có căn cứ chấp nhận.
- Về án phí: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bà Huỳnh Thị C phải chịu án phí Hôn nhân sơ thẩm.
Ông Trương Văn Linh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 28, 35, 39, 147, 235 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Các Điều 17, 27, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị C được ly hôn với ông Trương Văn Linh T.
- Về con chung:
Bà Huỳnh Thị C được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Trương Huỳnh A, sinh ngày: 21/5/2020, giới tính: nữ.
Ông Trương Văn Linh T có nghĩa vụ giao con chung tên Trương Huỳnh A, sinh ngày: 21/5/2020, giới tính: nữ cho bà Huỳnh Thị C nuôi dưỡng, chăm sóc.
Ông Trương Văn Linh T không trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung nhưng được quyền đến thăm nom, chăm sóc giáo dục con, không ai được quyền ngăn cản ông Linh T thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
- Về cấp dưỡng và tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến
- Về án phí:
Bà Huỳnh Thị C phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà C đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002243 ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hưng, tỉnh Long An. Bà C đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
Ông Trương Văn Linh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Văn Thành |
Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG – TỈNH LONG AN về ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG – TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị C tranh chấp "Ly hôn, nuôi con" với Trương Văn Linh T
