|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2025/DS-ST Ngày 14 tháng 3 năm 2025 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán: Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Việt Giang.
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lâm Quang Tụng.
- 2. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.
- - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Trần Lại Khánh Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 47/2024/TLST- DS ngày 23 tháng 10 năm 2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐST-DS ngày 13 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2025/QĐST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Lý Quốc C, sinh năm 1990; (Có mặt)
Địa chỉ: Khu E, thị trấn H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1973; (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu B, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn A:
Ngày 23/04/2024 anh và ông Nguyễn Văn L ký kết “Hợp đồng vay tiền” với nội dung anh cho ông Nguyễn Văn L vay số tiền 130.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm ba mươi triệu đồng chẵn) trong thời gian là 05 tháng kể từ ngày 23/04/2024 đến hết ngày 23/09/2024 với lãi suất 20%/năm, tiền lãi được thanh toán 01 tháng 01 lần vào ngày cuối cùng của kỳ thanh toán. Ông Nguyễn Văn L đảm bảo khả năng thanh toán số tiền nợ gốc và lãi theo Hợp đồng anh L có giao cho anh C 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM705430 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Phú Thọ cấp ngày 07/02/2024; Số vào sổ cấp GCN: CH 02170 đứng tên chủ sử dụng ông Nguyễn Văn L, thửa đất số 270, tờ bản đồ số 6Đ tại địa chỉ: khu B, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ, diện tích: 623m². Hợp đồng vay tiền đã được chứng nhận bởi Công chứng viên Văn phòng C1, tỉnh Phú Thọ; số công chứng 1045/2024 quyển số 01/2024TP/CC-SCC/HĐGD. Sau khi ký kết Hợp đồng vay tiền, anh đã bàn giao đủ số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng chẵn) cho ông Nguyễn Văn L. Kể từ ngày vay đến nay ông L chưa trả cho anh khoản tiền gốc nào. Tiển lãi ông L trả cho anh được 02 tháng tiền lãi và lãi chậm trả là 12.000.000đ. Anh đã nhiều lần liên lạc nhưng ông Nguyễn Văn L không nghe điện, lên nhà ông Nguyễn Văn L trốn tránh không gặp anh.
Tại đơn khởi kiện và lời khai anh C yêu cầu Toà án giải quyết:
- Buộc ông Nguyễn Văn L phải trả cho anh số tiền nợ gốc là 130.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm ba mươi triệu đồng chẵn).
- Buộc ông Nguyễn Văn L phải trả cho anh số tiền lãi và lãi chậm trả từ ngày 23/07/2024 đến ngày 23/09/2024 là = 19.500.000 (đồng).
Tại phiên tòa anh C đề nghị:
Do anh L đã trả lãi cho anh lần 1 là 6.000.000đ vào ngày 23/5/2024, trong đó số tiền lãi là 130.000.000đ x 1,66% = 2.158.000đ, số tiền còn lại là 3.842.000₫ anh trừ vào số tiền gốc cho anh L. Như vậy tính đến ngày 23/5/2024 anh L còn nợ số tiền gốc là 126.158.000đ.
Ngày 23/6/2024 anh L trả cho anh 6.000.000đ, trong đó tiền lãi là 126.158.000₫ x 1.66% = 2.094.222đ, làm tròn là 2.094.000đ, số tiền còn lại là 3.906.000đ sẽ trừ vào số tiền gốc cho anh L. Như vậy tính đến ngày 23/6/2024 anh L còn nợ số tiền gốc là 126.158.000₫ – 3.906.000₫ = 122.252.000₫.
- Anh C yêu cầu anh L phải trả cho anh số tiền gốc là 122.252.000đ.
- Số tiền lãi trong hạn từ 23/6/2024 đến ngày 23/9/2024 theo hợp đồng là 03 tháng số tiền là (122.252.000₫ x 1,66%) x 03 tháng = 6.088.149₫ (làm tròn là 6.088.000₫).
- Số tiền lãi quá hạn từ ngày 24/9/2024 đến ngày xét xử đối với số tiền gốc 122.252.000đ là 05 tháng 18 ngày, cụ thể là: 122.252.000đ x (20% x 150% : 12 tháng) x 05 tháng 18 ngày = 17.115.280đ (làm tròn là 17.115.000₫).
Tổng số tiền lãi là: 6.088.000đ + 17.115.000đ = 23.203.000đ.
Tổng số tiền gốc và lãi đến ngày xét xử 14/3/3025 là 122.252.000đ + 23.203.000₫ = 145.455.000₫.
Ý kiến của bị đơn: Tại bản tự khai anh Nguyễn Văn L trình bày:
Theo hợp đồng vay tiền ngày 23/4/2024 tôi có vay của anh Lý Quốc C số tiền là 130.000.000đ. Khi vay hai bên có lập hợp đồng vay tiền và công chứng tại Văn phòng C1, địa chỉ: Số C, đường H, thị trấn C, tỉnh Phú Thọ. Thời hạn vay là 05 tháng kể từ ngày 23/4/2024 đến ngày 23/9/2024. Phương thức cho vay một lần bằng tiền mặt và chuyển khoản ngay thời điểm ký kết hợp đồng. Về lãi xuất 20%/năm. Tiền lãi được thanh toán một tháng một lần kể từ ngày vay. Khi vay anh C có nhận của anh một GCNQSD đất, sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số TM705430 do UBND huyện P cấp ngày 07.2.2024 đứng tên Nguyễn Văn L, tại thửa đất số 270, tờ bản đồ số 6Đ, diện tích 623m², địa chỉ: khu B, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Hiện nay do điền kiện khó khăn nên anh chưa trả được cho anh C đúng hẹn. Anh sẽ trả cho anh C số tiền gốc là 130.000.000đ và tiền lãi là 19.500.000đ cho anh L vào ngày 16/12/2024 (dương lịch).
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ:
Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 463, Điều 466, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự; Khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lý Quốc C.
Buộc anh Nguyễn Văn L phải trả cho anh Lý Quốc C số tiền gốc là 122.252.000₫ (Một trăm hai mươi hai triệu hai trăm năm mươi hai nghìn đồng) và toàn bộ số tiền lãi là 23.203.000đ (Hai mươi ba triệu hai trăm linh ba nghìn đồng). Tổng số tiền gốc và lãi đến ngày xét xử 14/3/3025 là 145.455.000đ (Một trăm bốn mươi lăm triệu bốn trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
Về án phí: Anh Nguyễn Văn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 7.272.750đ (Bảy triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn bảy trăm năm mươi đồng).
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét ý kiến của Kiểm sát viên, của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện của anh Lý Quốc C yêu cầu anh Nguyễn Văn L, nơi cư trú: 2, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do đó, đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Nguyễn Văn L đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh L là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:
Theo nội dung Hợp đồng vay tiền thể hiện anh Lý Quốc C cho anh Nguyễn Văn L vay số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng chẵn) trong thời hạn là 05 tháng kể từ ngày 23/04/2024 đến hết ngày 23/09/2024 với lãi suất 20%/năm, tiền lãi được thanh toán 01 tháng 01 lần vào ngày cuối cùng của kỳ thanh toán. Anh Nguyễn Văn L đảm bảo khả năng thanh toán số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng bằng việc giao cho anh C 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM705430 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Phú Thọ cấp ngày 07/02/2024; Số vào sổ cấp GCN: CH 02170 đứng tên chủ sử dụng ông Nguyễn Văn L, thửa đất số 270, tờ bản đồ số 6Đ, diện tích 623m², tại địa chỉ: khu B, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Hợp đồng vay tiền đã được chứng nhận của Công chứng viên Văn phòng C2, địa chỉ: SN B, đường H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ ngày 23/4/2024. Sau khi ký kết Hợp đồng vay tiền, anh Nguyễn Văn L đã nhận đủ số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng chẵn).
Anh C xác định kể từ ngày vay đến nay anh L đã trả cho anh được 02 tháng tiền lãi và lãi chậm trả là 12.000.000₫.
Tại phiên tòa, anh C xác định ngày 23/5/2024 do anh L đã trả lãi cho anh lần 1 là 6.000.000đ, trong đó số tiền lãi là 130.000.000₫ x 1,66% = 2.158.000đ, số tiền còn lại là 3.842.000₫ anh trừ vào số tiền gốc cho anh L. Như vậy tính đến ngày 23/5/2024 anh L còn nợ số tiền gốc là 126.158.000đ.
Ngày 23/6/2024 anh L trả cho anh 6.000.000đ, trong đó tiền lãi là 126.158.000₫ x 1.66% = 2.094.222đ, (làm tròn là 2.094.000đ), số tiền còn lại là 3.906.000đ sẽ trừ vào số tiền gốc cho anh L. Như vậy tính đến ngày 23/6/2024 anh L còn nợ số tiền gốc là 126.158.000₫ – 3.906.000₫ = 122.252.000đ.
- Anh C yêu cầu anh L phải trả cho anh số tiền gốc là 122.252.000đ.
Số tiền lãi trong hạn từ 23/6/2024 đến ngày 23/9/2024 theo hợp đồng là 03 tháng số tiền là (122.252.000₫ x 1,66%) x 03 tháng = 6.088.149đ (làm tròn là 6.088.000₫).
Số tiền lãi quá hạn từ ngày 24/9/2024 đến ngày xét xử đối với số tiền gốc 122.252.000đ là 05 tháng 18 ngày, cụ thể là: 122.252.000đ x (20% x 150% : 12 tháng) x 05 tháng 18 ngày = 17.115.280đ (làm tròn là 17.115.000₫).
Tổng số tiền lãi là: 6.088.000đ + 17.115.000đ = 23.203.000đ.
Tổng số tiền gốc và lãi đến ngày xét xử 14/3/3025 là 122.252.000đ + 23.203.000₫ = 145.455.000đ.
Tại bản tự khai bị đơn anh Nguyễn Văn L thừa nhận theo hợp đồng vay tiền ngày 23/4/2024 anh có vay của anh Lý Quốc C số tiền là 130.000.000đ. Khi vay hai bên có lập hợp đồng vay tiền và công chứng tại Văn phòng C1, địa chỉ: Số C, đường H, thị trấn C, tỉnh Phú Thọ. Thời hạn vay là 05 tháng kể từ ngày 23/4/2024 đến ngày 23/9/2024. Phương thức cho vay một lần bằng tiền mặt và chuyển khoản ngay thời điểm ký kết hợp đồng. Về lãi xuất 20%/năm. Tiền lãi được thanh toán một tháng một lần kể từ ngày vay. Khi vay anh C có nhận của anh L 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DM 705430 do UBND huyện P cấp ngày 07/2/2024 đứng tên Nguyễn Văn L, thửa đất số 270, tờ bản đồ số 6Đ, diện tích 623m², địa chỉ: khu B, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Hiện nay do điền kiện khó khăn nên anh chưa trả được cho anh L đúng hẹn. Anh L sẽ trả cho anh L số tiền gốc là 130.000.000đ và tiền lãi là 19.500.000đ cho anh L vào ngày 16/12/2024 (dương lịch).
Hội đồng xét xử xét thấy, anh L có vay tiền của anh C số tiền gốc là 130.000.000đ là đúng, thể hiện tại Theo hợp đồng vay tiền ngày 23/4/2024 bản gốc do anh C cung cấp và sự thừa nhận của các đương sự đối với số tiền vay, phù hợp với các tài liệu chứng cứ. Tại bản tự khai anh L nhất trí trả cho anh C số tiền gốc 130.000.000đ và toàn bộ số tiền lãi vào ngày 16/12/2024, nhưng từ đó đến nay anh L không trả cho anh C, anh L cũng không đến Tòa án để làm việc. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh C, buộc anh L phải trả cho anh C số tiền gốc là 122.252.000đ là phù hợp.
Về số tiền lãi: Anh C yêu cầu anh L phải trả cho anh số tiền lãi trong hạn từ 23/6/2024 đến ngày 23/9/2024 theo hợp đồng là 03 tháng số tiền là (122.252.000đ x 1,66%) x 03 tháng = làm tròn là 6.088.000đ.
- Số tiền lãi quá hạn từ ngày 24/9/2024 đến ngày xét xử đối với số tiền gốc 122.252.000đ là 05 tháng 18 ngày, cụ thể là: 122.252.000đ x (20% x 150% : 12 tháng) x 05 tháng 18 ngày = làm tròn là 17.115.000đ.
Tổng số tiền lãi là: 6.088.000đ + 17.115.000đ = 23.203.000đ.
Tổng số tiền gốc và lãi đến ngày xét xử 14/3/3025 là 122.252.000đ + 23.203.000đ = 145.455.000đ.
Xét thấy tại hợp đồng thì giữa anh C và anh L có thỏa thuận trong hợp đồng là 20%/ 1 năm. Nay anh C yêu cầu tính lãi số tiền lãi trong hạn từ 23/6/2024 đến ngày 23/9/2024 theo hợp đồng là 03 tháng số tiền là 6.088.000đ và số tiền lãi quá hạn từ ngày 24/9/2024 đến ngày xét xử là 05 tháng 18 ngày đối với số tiền gốc 122.252.000₫ là 17.115.280đ. Số tiền lãi trong hạn và số tiền lãi quá hạn từ ngày 24/9/2024 đến ngày xét xử trên phù hợp với quy định tại Điều 5, Điều 6 Nghị Quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, lãi vi phạm. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu tính lãi của anh C là phù hợp.
[3] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của anh Lý Quốc C được chấp nhận nên anh C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Anh Nguyễn Văn L phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên cần được chấp nhận.
[5] Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 463, Điều 466, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- [1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lý Quốc C.
Buộc anh Nguyễn Văn L phải trả cho anh Lý Quốc C số tiền gốc là 122.252.000₫ (Một trăm hai mươi hai triệu hai trăm năm mươi hai nghìn đồng) và toàn bộ số tiền lãi là 23.203.000đ (Hai mươi ba triệu hai trăm linh ba nghìn đồng). Tổng số tiền gốc và lãi đến ngày xét xử 14/3/3025 là 145.455.000đ (Một trăm bốn mươi lăm triệu bốn trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- [2]. Về án phí: Anh Nguyễn Văn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 7.272.750đ (Bảy triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn bảy trăm năm mươi đồng).
Trả lại cho anh Lý Quốc C số tiền 3.700.000đ (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001348 ngày 23/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
- [3]. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã nơi đương sự thường trú.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Việt Giang |
Bản án số 03/2025/DS-ST ngày 14/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 03/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Lý Quốc C khởi kiện Tranh chấp HĐ vay tài sản với anh Nguyễn Văn L
