Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HƯNG YÊN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 13 - 03 - 2025

Về việc: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bá Thiệp; Bà Nguyễn Thị Bích Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo My - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 185/2024/TLST-HNGĐ ngày 20/12/2024 về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25/02/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phan Thị H, sinh năm 1989. Có mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1985. Có mặt.

Cùng HKTT: Tổ dân phố N, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

Chỗ ở chị H: Ngõ A, Đ, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Cháu Nguyễn Bảo V, sinh ngày 11/7/2020. Đại diện theo pháp luật cho cháu là anh T và chị H.

Người làm chứng:

Bà Lê Thị M, sinh năm 1948. Trú tại: Tổ dân phố N, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1966. Trú tại: Thôn G, xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và các tài liệu trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phan Thị H trình bầy:

Chị H và anh Nguyễn Hữu T kết hôn trên cơ sở được tự do tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố H ngày 22/4/2010. Sau kết hôn anh chị sống cùng bố mẹ anh T, vợ chồng tôi làm tự do, thu nhập bấp bênh. Anh chị mãi không có con đã đi khám và điều trị đông tây y kết hợp, vợ chồng làm được đồng nào để dành vào việc chữa trị có con. Năm 2019 vợ chồng làm thụ tinh nhân tạo thì chị đã mang thai. Năm 2020 chị sinh cháu gái, ban đầu ở nhà chăm con, không làm gì, anh T làm thuê lắp tôn nhưng làm không đều hay nghỉ. Do kinh tế không có nên chị bán hàng onlie về mỹ phẩm, thực phẩm chức năng. Từ khi chị bán hàng hay phải dùng điện thoại anh T sinh ra ghen tuông, cho rằng chị nhắn tin cho trai. Anh còn lấy cả điện thoại tôi kiểm tra, chặn hết các khách hàng. Anh T ghen tuông vô cớ, nên vợ chồng sinh ra hay cãi nhau. Anh T còn đánh chị, nhốt chị trong phòng thờ không cho ăn uống, mùa hè cắt hết điện, mùa đông cất hết chăn đi, cứ khi nào anh ghen tuông là anh lại nhốt chị. Tầm tháng 7/2023 chị còn phát hiện anh T chơi bài trên điện thoại. Gần tết năm 2023 anh T lại ghen tuông đánh tôi và nhốt chị lại. Ăn tết xong năm 2023 chị và con về nhà đẻ ở huyện V. Nay, chị xác định không thể chung sống anh T được nữa, chị xin ly hôn anh.

Theo bị đơn anh Nguyễn Hữu T trình bầy:

Anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn, cuộc sống sau kết hôn và quá trình anh chị khám chữa trị có con đúng như chị H đã trình bày. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn sau khi chị H sinh năm 2020, do chị H bán hàng onlie. Chị nhiều lần gọi điện nói chuyện với đàn ông đến 02 giờ sáng. Anh bắt gặp và có lấy điện thoại chị kiểm tra, nhưng chị đều chối cho rằng đang bán hàng cho khách. Anh thừa nhận có ghen nên vợ chồng sinh ra hay cãi nhau. Anh có đánh chị H 01 lần và có nhốt chị H trong phòng thờ, anh cắt điện và cất chăn đi để không cho chị H onlie vào chăm con và đi ngủ. Ngoài ra, chị H nhiều hôm không nấu cơm cho anh ăn, cho anh ăn cơm thiu khi đi làm về. Khi bố anh ốm, chị H cũng không để ý chăm sóc. Giữa anh và chị H không thống nhất được cách chăm sóc con khi ốm, anh muốn cho cháu đi viện, còn chị H lại muốn dùng thực phẩm chức năng. Tầm tháng 7/2023 anh có chơi xổ số trên điện thoại bằng tiền của anh, việc chơi có thắng có thua, chơi với lượng tiền ít. Gần tết năm 2023 vợ chồng cãi nhau vì anh ghen. Ăn tết xong năm 2023 chị H và con về nhà đẻ ở cho đến nay. Khi chị H về nhà đẻ, anh sang thăm con vấn thấy chị H gọi điện nhắn tin cho ai trên mạng đến 02 hay 03 giờ sáng. Anh có bảo chị H về nhưng chị cương quyết không về. Nay, chị H xin ly hôn, anh xác định đã cố gắng níu kéo chị vì con không được nên anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Chị H và anh T có 01 con chung là Nguyễn Bảo V, sinh ngày 11/7/2020. Anh T và chị H đều nhận nuôi cháu V. Chị H tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con là 5.000.000 đồng/1 tháng, chị không đồng ý, chỉ chấp nhận cấp dưỡng 2.000.000 đồng/1 tháng nếu Tòa án xử giao con cho anh T nuôi.

Về tài sản chung: Chị H và anh T khẳng định không có, không yêu cầu giải quyết.

Người làm chứng bà Lê Thị M trình bày: Bà là mẹ đẻ anh T, mẹ chồng chị H. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh T chung sống cùng vợ chồng bà. Anh chị mãi không có con, sau nhiều năm chữa trị chị H đã sinh con gái năm 2020. Sau khi chị H sinh con, ở nhà bán hàng oline, anh T đi làm tự do, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị H hay cầm điện thoại, nhắn tin, gọi điện, anh T có ghen nên vợ chồng hay cãi nhau. Trước tết năm 2023 vợ chồng lại cãi nhau vì con. Ăn xong tết năm 2023 chị H và con về nhà đẻ ở cho đến nay. Nay chị H xin ly hôn, bà không mong muốn. Vợ chồng anh T có 01 con chung là cháu V, anh chị tự giải quyết với nhau về con. Chị H, anh T không có tài sản chung và nợ chung với gia đình bà. Bà do tuổi cao, lại đang trông nom Đền T2, phố N, phường H nên không có thời gian, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Người làm chứng bà Nguyễn Thị Á trình bày: Bà là me đẻ của chị H, mẹ vợ anh T. Sau kết hôn anh chị chung sống cùng gia đình anh T bên Hưng Yên. Bà có biết việc anh chị mãi không có con sau nhiều năm. Năm 2020 chị H sinh con, ở nhà chăm con và bán hàng oline. Từ đó, vợ chồng sinh ra mâu thuẫn, vì anh T ghen cho rằng chị H nhắn tin, gọi điện cho trai. Vợ chồng hay cãi nhau. Ăn tết xong năm 2023 chị H và con về ở nhà bà, không quay lại nhà anh T nữa. Chị H ở được mấy tháng thì gửi con cho gia đình bà trông nom chăm cháu hộ, để chị xuống thành phố T thuê nhà làm công nhân may, cuối tuần thì về thăm cháu. Đến nay, chị H cương quyết xin ly hôn anh T, gia đình đã khuyên bảo nhưng chị H không nghe, thì tùy chị quyết định. Vợ chồng chị H có 01 con chung là cháu Nguyễn Bảo V, sinh ngày 11/7/2020. Khi ly hôn tự anh chị giải quyết với nhau về con. Bà không yêu cầu chị H, anh T phải trả công sức chăm cháu. Nếu chị H được nhận nuôi cháu V thì gia đình bà sẽ hỗ trợ chị H trong việc chăm sóc cháu hàng ngày.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng hai bên không thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Tại phiên tòa: Chị Phan Thị H và anh Nguyễn Hữu T vẫn giữ nguyên quan điểm nhất trí thuận tình ly hôn. Anh chị đều nhận nuôi cháu V. Chị H tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng. Tài sản chung anh chị không có, không yêu cầu giải quyết.

- Quan điểm của đại diện VKSND thành phố Hưng Yên:

+ Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên đã chấp hành nghiêm chỉnh trình tự thủ tục tố tụng kể từ khi thụ lý, thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến quá trình xét xử công khai tại phiên tòa.

+ Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 82, Điều 83, khoản 1 Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX tuyên xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị H và anh T. Về con chung: Giao cháu V cho chị H nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Chị H và anh T phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Chị Phan Thị H yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Hữu T có hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố N, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên. Quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn”.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị H và anh Nguyễn Hữ T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên ngày 22/4/2020, như vậy hôn nhân giữa chị H và anh T1 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

[2.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H: Chị H, anh T1 đều khẳng định trong cuộc sống vợ chồng anh chị có mâu thuẫn tình cảm vợ chồng và đỉnh điểm là năm 2020, sau khi chị H sinh con, chị ở nhà bán hàng onlie. Chị H hay dùng điện thoại để bán hàng, anh T1 ghen cho rằng chị nhắn tin, gọi điện cho trai đến khuya. Vợ chồng hay cãi nhau và có đánh nhau. Ăn tết xong năm 2023, chị H và con về nhà bố mẹ đẻ tại Thái Bình ở. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị H và anh T1 đều xác định không còn tình cảm vợ chồng nữa, chị H xin ly hôn, anh T1 đồng ý. Căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa hai anh chị.

[2.3] Về con chung: Anh chị có một con chung là Nguyễn Bảo V, sinh ngày 11/7/2020. Chị H và anh T1 đều nhận nuôi cháu. Mặc dù anh T1 cho rằng chị H không có thời gian chăm con, đi làm may, để con ở nhà ông bà ngoại chăm, còn anh làm tự do bên ngoài có thời gian chủ động chăm con hơn. Hội đồng xét xử thấy: Hiện tại cháu V còn nhỏ lại là con gái vẫn cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ. Việc chị H đi làm may không ảnh hưởng đến việc nuôi con, vì những lúc chị đi làm bà Á (mẹ chị H) tự nguyện nhận chăm sóc cháu hộ chị H. Mặt khác, thu nhập hàng tháng của chị H ổn định đảm bảo cuộc sống hai mẹ con. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy việc giao cháu V cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu V. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con hàng tháng.

[2.4] Về tài sản chung: Chị H và anh T1 không có, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Phan Thị H và anh Nguyễn Hữu T cùng phải chịu 150.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn. Tại phiên tòa, chị H tự nguyện chịu cả phần án phí cho anh T. Xét thấy đây là sự tự nguyện của chị H nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 82, Điều 83, khoản 1 Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phan Thị H và anh Nguyễn Hữu T.

[2]. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo V, sinh ngày 11/7/2020 cho chị Phan Thị H nuôi dưỡng, cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con hàng tháng. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[3]. Về tài sản chung: Đương sự không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4]. Về án phí: Chị Phan Thị H tự nguyện chịu 150.000 đồng án phí sơ thẩm, đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng chị đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/24 số 0000597 ngày 20/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hưng Yên. Hoàn trả chị H số tiền 150.000 đồng.

[5]. Về quyền kháng cáo: Chị H và anh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận.

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Hưng Yên;
  • - Chi cục THADS T.P Hưng Yên;
  • - Phòng nghiệp vụ & THA,
  • - Tòa án tỉnh Hưng Yên;
  • - UBND phường Hiến Nam, Tp Hưng Yên;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Thị Kim Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 13/03/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên về ly hôn

  • Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger