Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HOA LƯ

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13/03/2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Giang Thị Thúy Thu.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Quách Thị Thu Hương.
2. Ông Bùi Thanh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thanh Mai - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hảo - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 109/2024/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXX-ST ngày 21 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Q, sinh năm 1990; Nơi thường trú: số nhà A, đường P.phố P, phường N, thành phố N ( nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình. Nơi tạm trú: số nhà C, đường T, phố B, phường N, thành phố N ( nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình;

- Bị đơn: Anh Vũ Xuân H, sinh năm 1979. Nơi thường trú: số nhà A, đường P, phố P, phường N, thành phố N ( nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình;

Tại phiên toà: có mặt nguyên đơn; vắng mặt có lý do bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị Q trình bày:

Chị và anh Vũ Xuân H kết hôn với nhau năm 2012, có được tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố N ( nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm về làm ăn, lối sống, tính tình không hợp, anh H ghen tuông vô cớ dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, thậm trí anh H còn đánh, chửi xúc phạm chị và bố mẹ chị. Năm 2022 vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng, sống ly thân vì anh H ghen tuông vô cớ, chửi bới, đuổi đánh chị đến tận nơi chị làm việc, đe dọa đập phá đồ đạc không cho chị làm ăn nên chị đến sống tại nơi làm việc và cũng từ đó vợ chồng không quan hệ tình cảm với nhau. Cho đến nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng không cải thiện được, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Vũ Thị Hồng N, sinh ngày 26/08/2012 và cháu Vũ Trần Mai T, sinh ngày 19/07/2019. Hiện nay cháu T đang ở với chị và cháu N đang ở với anh H. Khi ly hôn chị đề nghị được chăm sóc nuôi dưỡng cháu T còn anh H chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N theo nguyện vọng của cháu và anh H.

Về cấp dưỡng cho con: do mỗi người đều nuôi 1 cháu nêu không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng chị tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Tại bản trình bày ngày 14/02/2025 bị đơn anh Vũ Xuân H trình bày:

Anh đồng ý ly hôn với chị Trần Thị Q vì chị Q quan hệ bất chính, ngoại tình với nhiều người.

Về con chung: anh và chị Q có 02 con gái là Vũ Thị Hồng N, sinh ngày 26/08/2012, cháu Vũ Trần Mai T, sinh ngày 19/07/2019. Hiện nay cháu N đang ở với bố, cháu T đang ở với mẹ. Khi ly hôn đề nghị chị Q phải có trách nhiệm nuôi dưỡng cháu T đến khi trưởng thành, anh nuôi dưỡng cháu N đến khi trưởng thành.

Về tài sản: không có gì, anh chị tự giải quyết.

Công nợ: anh tự giải quyết.

Đề nghị Tòa án thành phố H giải quyết vắng mặt anh, do anh đi làm xa.

* Tại phiên tòa: Chị Q trình bày: giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Sau khi vợ chồng sống ly thân, gia đình chồng có gọi chị về nhà để hòa giải nhưng anh H

không xuống nhà mà đứng trên tầng chửi chị. Hiện nay chị đang làm tại Trung tâm chăm sóc da và sức khỏe do em gái chị làm chủ thu nhập khoảng 10 triệu đồng/ tháng còn anh H trước khi vợ chồng sống ly thân anh H làm bảo vệ, cơ khí, điện nước chị không biết thu nhập thực tế của anh H. Từ khi vợ chồng sống ly thân cháu T ở với chị còn cháu N ở với bố nhưng cả bố và mẹ đều quan tâm chăm sóc các cháu. Anh H ở cùng với bố đẻ còn chị đang ở nhà thuê. Anh H trình bày chị có quan hệ ngoại tình với nhiều người nhưng không có chứng cứ vu khống cho chị nên giữa chị và anh H thường xuyên cãi, đánh nhau. Quan điểm của chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H và giao cháu T cho chị chăm sóc nuôi dưỡng, giao cháu N cho anh H chăm sóc nuôi dưỡng; Do mỗi người đều nuôi một con nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung, công nợ chung: chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư phát biểu ý kiến: về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đã tuân thủ, thực hiện đầy đủ, đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, điều 234 BLTTDS; Bị đơn thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS.

Quan điểm về nội dung vụ án:

- Áp dụng Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Q. Cho chị Trần Thị Q được ly hôn với anh Vũ Xuân H.

- Về con chung: Giao cháu Vũ Thị Hồng N, sinh ngày 26/08/2012 cho anh Vũ Xuân H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Giao cháu Vũ Trần Mai T, sinh ngày 19/07/2019 cho chị Trần Thị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi các cháu đủ 18 tuổi; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Trần Thị Q phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002394 ngày 07/11/2024 của Chi

cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình (nay là Chi cục thi hành án thành phố Hoa Lư),

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: chị Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Vũ Xuân H, có nơi cư trú tại phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

- Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, chị Q thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, anh H không đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng có bản trình bày đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H và giải quyết vụ án trên cơ sở tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp, Tòa án thu thập được.

[2] Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị Q và anh Vũ Xuân H xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều kiện, thủ tục kết hôn, có đăng ký kết hôn năm 2012 nên là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn chị Q và anh H chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị Q là do bất đồng quan điểm sống, anh H ghen tuông vô cớ dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi đánh nhau, anh H đánh, chửi xúc phạm chị và bố mẹ chị; theo anh H là do chị Q quan hệ bất chính, ngoại tình với nhiều người. Mặc dù không có chứng cứ nhưng từ những nghi ngờ, không tin tưởng nhau dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng, sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Chị Q làm đơn xin ly hôn anh H, anh H cũng đồng ý ly hôn song không đến Tòa án để giải quyết.

Ủy ban nhân dân phường N, thành phố H cung cấp: không nắm được mâu thuẫn vợ chồng giữa anh H và chị Q, chỉ biết khoảng 3 năm nay vợ chồng anh H chị Q không chung sống một nhà với nhau, chị Q, cháu T chuyển đi nơi khác sinh sống.

Từ những căn cứ trên chứng tỏ anh H chị Q không còn thiết tha mong muốn duy trì quan hệ hôn nhân, vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi, mâu thuẫn vợ

chồng giữa chị Q và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Q, cho chị Q được ly hôn anh H là phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về con chung: chị Q và anh H có 2 con chung là cháu Vũ Thị Hồng N, sinh ngày 26/08/2012 và cháu Vũ Trần Mai T, sinh ngày 19/07/2019. Hiện cháu N đang ở với anh H, cháu T đang ở với chị Q. Khi ly hôn chị Q yêu cầu được chăm sóc nuôi dưỡng cháu T còn anh H chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N; anh H cũng đồng quan điểm với chị Q. Xét thấy anh H và chị Q đã tự phân chia việc chăm sóc nuôi dưỡng các con chung, cháu N có nguyện vọng ở với anh H và trình bày bố mẹ đều yêu thương cháu nên căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của các cháu và không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại cần giao cháu N cho anh H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và cháu T cho chị Q trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: anh H và chị Q mỗi người đều nuôi dưỡng 01 con chung, không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Q là người khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Điều 51, 56, 58, 81; 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Q về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” đối với anh Vũ Xuân H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Q ly hôn anh Vũ Xuân H.
  2. Về con chung: Giao cháu Vũ Trần Mai T, sinh ngày 19/07/2019 cho chị Trần Thị Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi; Giao cháu Vũ Thị Hồng N, sinh ngày 26/08/2012 cho anh Vũ Xuân H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

    Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: anh H và chị Q mỗi người đều nuôi dưỡng 01 con chung, không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

    Anh H, chị Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó; các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng cho con.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Trần Thị Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Q đã nộp trong biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án biên lai số 0002394 ngày 07/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình ( nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình.

Án xử sơ thẩm công khai nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6 Điều 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND – TP Hoa Lư;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - Chi cục THADS – TPHoa lư;
  • - UBND phường Nam Bình, TPHL;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu án văn..

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Giang Thị Thúy Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 13/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger