TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 03/2025/KDTM-PT
Ngày 11-3-2025
“V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Ửng.
Các Thẩm phán: Ông K'Tiêng và ông Nguyễn Thế Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Huê, là Thư ký viên của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Dương Phúc Trường – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06 tháng 03 năm 2025 và ngày 11 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 04/2024/TLPT-KDTM ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”,
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 01/2024/KDTM-ST ngày 02-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo,
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 04/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 01/2024/QĐ-PT ngày 16 tháng 01 năm 2025 và Thông báo thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa ngày 10 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV X; địa chỉ: Số B N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Tiến H, chức vụ: Chủ tịch hội đồng thành viên.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Đức H1, chức vụ: Tổng giám đốc.
Người được ủy quyền tham gia tố tụng: ông Đoàn Hải N – Nhân viên phòng kế hoạch – KSNB - Công ty TNHH MTV X – Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nguyên đơn: ông Nguyễn Mai H2 – Luật sư - Văn phòng luật sư Nguyễn Mai H2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: Số A L, phường T, TP ., tỉnh Đắk Lắk – Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Công ty TNHH MTV T; Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông;
Người đại diện theo pháp luật: ông Đoàn Quang V – Giám đốc – Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích cho phía bị đơn: ông Lê Xuân Anh P và ông Trịnh Gia Q - Luật sư thuộc Công ty L và cộng sự thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: Số I P, phường T, tỉnh Đắk Lắk – Ông P có mặt; ông Q vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn Công ty TNHH MTV T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/01/2024, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, người được nguyên đơn ủy quyền trình bày:
Công ty TNHH MTV X (gọi tắt Công ty X) đã ký các hợp đồng mua bán cà phê với Công ty TNHH MTV T (gọi tắt: Công ty T) được thể hiện cụ thể theo từng hợp đồng sau:
- Hợp đồng mua bán cà phê số KDM/C2324/188 ngày 14/11/2023, nội dung trong hợp đồng thể hiện việc mua bán cà phê Rxô với khối lượng 150.000kg, giá mua 58.7000đồng/kg, quy thành tiền là 8.805.000.000 đồng (Tám tỷ tám trăm linh năm triệu đồng); phương thức giao nhận qua cân, thời gian giao nhận hàng chậm nhất ngày 20/12/2023; Bên B ký quỹ cho Bên A số tiền là 260.000.000 đồng theo giá trị hàng hóa của hợp đồng; được hưởng lãi suất là 0,5%/ tháng đối với số tiền ký quỹ này và được thanh toán khi đã thực hiện giao đủ số lượng hợp đồng; Chứng từ thanh toàn kèm theo: Hóa đơn giá trị gia tăng.
- Hợp đồng mua bán cà phê số KDM/C2324/200 ngày 17/11/2023, nội dung trong hợp đồng thể hiện số lượng cà phê Rxô với khối lượng là 100.000kg, giá mua 59.400đồng/kg, quy thành tiền là 5.940.000.000 đồng (Năm tỷ chín trăm bốn mươi triệu đồng); phương thức giao nhận qua cân, thời gian giao nhận hàng chậm nhất ngày 10/01/2024; Bên B ký quỹ cho Bên A số tiền là 3% theo giá trị hàng hóa của hợp đồng (178.000.000 đồng); được hưởng lãi suất là 0,5%/ tháng đối với số tiền ký quỹ này và được thanh toán khi đã thực hiện giao đủ số lượng hợp đồng;
- Hợp đồng mua bán cà phê số KDM/C2324/208 ngày 20/11/2023, nội dung trong hợp đồng thể hiện số lượng cà phê Rxô với khối lượng là 100.000kg giá mua 59.300 đồng/kg, quy thành tiền là 5.930.000.000 đồng (Năm tỷ chín trăm ba mươi triệu đồng); phương thức giao nhận qua cân, thời gian giao nhận hàng chậm nhất ngày 10/01/2024;
- Hợp đồng mua bán cà phê số KDM/C2324/218 ngày 23/11/2023 nội dung trong hợp đồng được thể hiện cà phê Rxô với khối lượng là 100.000kg, giá mua 59.000 đồng/kg, quy thành tiền là 5.900.000.000 đồng (Năm tỷ chín trăm ba mươi triệu đồng); phương thức giao nhận qua cân, thời gian giao nhận hàng chậm nhất ngày 05/01/2024;
- Hợp đồng mua bán cà phê số KDM/C2324/250 ngày 25/11/2023, nội dung trong hợp đồng thể hiện cà phê Rxô với khối lượng 200.000kg, giá mua 59.700 đồng/kg, quy thành tiền là 11.940.000.000 đồng (Mười một tỷ chín trăm bốn mươi triệu đồng); phương thức giao nhận qua cân, thời gian giao nhận hàng chậm nhất ngày 10/01/2024;
Trong các hợp đồng mua bán đều thể hiện rõ quy cách phẩm chất; phương thức giao nhận hàng, vận chuyển, bốc xếp, bao bì; địa điểm giao hàng; nếu hàng giao chậm so với thời gian thì giá mua sẽ được giảm trừ như sau: quá 05 ngày - 100 đồng/ kg; vận chuyển bên bán chịu; bốc xếp hàng mỗi bên chịu một đầu; bao bì đóng gói: hàng được đóng trong bao PP mới đồng nhất, bao bì tính kèm theo hàng hóa; giám định chất lượng hàng hóa do bên mua chỉ định; phương thức thanh toán được thể hiện tại Điều IV của hợp đồng: bằng chuyển khoản hoặc bù trừ công nợ; hình thức và thời gian thanh toán: Sau khi Bên B giao hàng, Bên A sẽ thanh toán cho Bên B một phần của giá trị tiền hàng theo số lượng và chất lượng Bên A đã nhận. Phần tiền còn lại của trị giá lô hàng Bên A sẽ thanh toán cho Bên B sau khi nhận được đầy đủ bộ chứng từ (bản chính);
Ngoài ra, trong 05 hợp đồng mua bán cà phê trên còn thể hiện các điều khoản khác được quy định tại Điều V như: Cam kết thực hiện đúng các điều khoản. Trong quá trình thực hiện, nếu có vấn đề gì mới phát sinh thì hai bên cùng nhau thương lượng giải quyết trên tinh thần hợp tác. Trường hợp bên nào không thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng, phải thanh toán cho bên còn lại một khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng là 8% giá trị hợp đồng chưa được thực hiện tương ứng. Ngoài phạt vi phạm hợp đồng, bên vi phạm phải bồi thường bao gồm tất cả giá trị thiệt hại thực tế phát sinh. Ngoài ra, cũng được thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp.
Theo 05 hợp đồng mà Công ty X đã ký kết với Công ty T thể hiện việc mua bán cà phê với số lượng là 650.000 kg cà phê Rxô được thể hiện trong các hợp đồng với tổng giá tiền là 38.515.000.000 đồng (Ba mươi tám tỷ năm trăm mười năm triệu đồng).
Đến thời điểm thực hiện theo 05 hợp đồng thì bên phía Công ty X đã thiện chí để thực hiện hợp đồng đã ký kết với Công ty T, bằng việc bên phía Công ty X đã cử cán bộ, nhân viên Công ty X xuống trụ sở Công ty T để đôn đốc, nhắc nhở việc giao hàng theo các hợp đồng đã ký giữa hai Công ty nhưng phía Công ty T không hợp tác, tránh mặt, không có thiện chí và phía Công ty T nêu những lý do như giám đốc đi vắng, con giấu không có trụ sở ... thể hiện sự tránh mặt khi làm việc với Công ty X. Công ty B cũng đã làm thông báo gửi cho Công ty T nhưng không có sự phản hồi từ Công ty T;
Do Công ty T không hợp tác, tránh mặt, không có thiện chí để hai bên cùng bàn bạc thực hiện 05 hợp đồng đã ký kết với nhau nên Công ty X mới căn cứ vào 05 hợp đồng mua bán cà phê để khởi kiện ra TAND huyện Đắk Song yêu cầu TAND huyện Đắk Song xem xét giải quyết buộc Công ty T phải trả tiền phạt vi phạm 05 hợp đồng là 3.081.200.000 đồng (Ba tỷ không trăm trăm mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng) (Trị giá của 05 hợp đồng với số cà phê là 650.000 kg cà phê nhân xô quy thành tiền là 38.515.000.000 đồng x 8% đã được thể hiện trong hợp đồng) cho Công ty X.
Ngoài ra, Công ty X yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc Công ty T phải bồi thường thiệt hại với số tiền là 7.179.261.000 đồng (Bảy tỷ một trăm bảy mươi chín triệu hai trăm sáu mươi mốt nghìn đồng) với lỗi không giao hàng cho Công ty X nên Công ty X phải ký kết các hợp đồng mua bán cà phê với Công ty khác để cung ứng cho bên thứ 03 thể hiện số cà phê Công ty X mua cà phê của Công ty TNHH MTV C củ quả TH89 Gia Lai với số lượng là 650.000 kg cà phê theo các hợp đồng và hóa đơn giá trị gia tăng gửi cho Tòa án (thể hiện ngày 13/01/2024 đến ngày 16/01/2024) quy thành tiền là 45.694.261.000 đồng - 38.515.000.000 đồng = 7.179.261.000 đồng (Đã làm tròn).
Tổng Công ty TNHH MTV X yêu cầu Công ty T với số tiền do vi phạm và bồi thường hợp đồng với số tiền là 10.260.461.000 đồng (Mười tỷ hai trăm sáu mươi triệu bốn trăm sáu mươi mốt nghìn đồng).
Đối với yêu cầu phản tố của Công ty T thì Công ty TNHH MTV X có ý kiến như sau: Nếu Tòa án xem xét yêu cầu của Công ty TNHH MTV X buộc Công ty T phải bồi thường và phạt vi phạm hợp đồng đồng, Công ty T không có thiện chí tiếp tục thực hiện hợp đồng thì đồng ý chấm dứt 05 hợp đồng mà hai Công ty đã ký với nhau và số tiền ký quỹ mà Công ty T đã gửi trước đó là 438.000.000 đồng đề nghị khấu trừ vào số tiền mà Công ty T phải trả cho Công ty X.
Theo đơn phản tố ngày 28-3-2024 và quá trình giải quyết vụ án, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Công ty TNHH MTV T thừa nhận vào các ngày 14/11/2023, ngày 17/11/2023, ngày 20/11/2023, ngày 23/11/2023 và ngày 25/11/2023 Công ty TNHH MTV T đã ký 05 hợp đồng mua bán cà phê với Công ty TNHH MTV X; trong 05 hợp đồng này thể hiện rất rõ như phía Công ty TNHH MTV X đã trình bày ở trên nên phía Công ty TNHH MTV T không nêu lại; hàng hóa là 650.000 kg cà phê Rxô với giá được thể hiện trong từng hợp đồng, thời hạn giao hàng muộn nhất là ngày 10/01/2024. Trước, trong và sau khi ký kết các hợp đồng mua bán cà phê này (với Công ty X) Công ty T cũng đã ký với cá nhân, doanh nghiệp trên địa bàn để thu mua cà phê nhưng do giá cà phê tăng đột biến, ảnh hưởng thời tiết nên các cá nhân, doanh nghiệp đã ký với Công ty T trước đó không cung ứng hàng nên Công ty T không giao hàng theo 05 hợp đồng đã ký với Công ty X. Khi ký hợp đồng mua bán cà phê phía Công ty T cũng đã ký quỹ liên quan đến 02 hợp đồng trong 05 hợp đồng mà hai Công ty đã ký với nhau với số tiền là 438.000.000 đồng mục đích là để thực hiện 05 hợp đồng mà hai bên đã ký với nhau.
Căn cứ vào 05 hợp đồng mà hai Công ty đã ký với nhau thể hiện chưa có việc giao hàng và giao tiền với nhau, mặc dù khi ký các hợp đồng này các bên hoàn toàn tự nguyện, thiện chí thực hiện 05 hợp đồng này nhưng quá trình thực hiện 05 hợp đồng này thì phía Công ty TNHH MTV T không mua được hàng nên không cung cấp số lượng hàng theo 05 hợp đồng mà đã ký với Công ty X.
Mặc dù, Công ty TNHH MTV X có cung cấp các hợp đồng mà Công ty TNHH MTV X mua của Công ty TNHH MTV C vào ngày 13/01/2024 với tổng số lượng cà phê là 700.000 kg kèm theo phiếu nhập hàng và hóa đơn giá trị gia tăng và kể cả việc Công ty TNHH MTV X có xuất hàng cho Công ty thứ 3 vào tháng 4/2024 (Xuất khẩu là 678.000kg cà phê nhân xô); đây là giao dịch hàng ngày của Công ty TNHH MTV X.
Việc Công ty T ký 05 hợp đồng với Công ty TNHH MTV X; không có hàng giao theo 05 hợp đồng này và Công ty TNHH MTV X cũng chưa giao tiền cho Công ty T. Điều này thể hiện các bên có ký hợp đồng mua bán với nhau nhưng chưa thực hiện các giao dịch khác trong hợp đồng nên 05 hợp đồng này chưa phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên nên phía Công ty TNHH MTV T không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV X liên quan yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại hợp đồng mua bán cà phê đã ký.
Việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi; nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng sẽ bất lợi cho Công ty TNHH MTV T nên cần phải chẩm dứt. Đối với yêu cầu phản tố của Công ty T được Tòa án thụ lý đề nghị Tòa án tuyên chấm dứt 05 hợp đồng mua bán cà phê mà hai Công ty ký kết với nhau được thể hiện các ngày 14/11/2023, ngày 17/11/2023, ngày 20/11/2023 và ngày 25/11/2023; buộc Công ty TNHH MTV X trả lại số tiền ký quỹ là 438.000.000 đồng cho Công ty TNHH MTV T.
Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 01/2024/KDTM-ST ngày 02-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 24;Điều 34; Điều 35, Điều 37, Điều 297; Điều 300, Điều 301; Điều 302, Điều 303; Điều 307; Điều 312 của Luật Thương mại năm 2005; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện Công ty TNHH MTV X. Buộc Công ty TNHH MTV T phải trả số tiền là 9.822.461.000 đồng (Chín tỷ tám trăm hai mươi hai triệu bốn trăm sáu mươi mốt nghìn đồng) cho Công ty TNHH MTV X.
Không chấp nhận yêu cầu Công ty TNHH MTV T về việc chấm dứt 05 hợp đồng mua bán hàng hóa.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 13-8-2024, bị đơn Công ty TNHH MTV T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa, nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền chênh lệch là 983.918.313 đồng (chín trăm tám mươi ba triệu chín trăm mười tám nghìn ba trăm mười ba đồng) và giữ nguyên các yêu cầu còn lại; bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố và yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không cung cấp bổ sung tài liệu, chứng cứ gì khác.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông:
- Về tố tụng: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, các Thẩm phán tham gia, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
- Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định.
- Người đại diện theo pháp luật của bị đơn ông Đoàn Quang V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông V.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, sau khi làm rõ các chứng cứ chứng minh thiệt hại của nguyên đơn có trong hồ sơ vụ án. Nguyên đơn thừa nhận có sự chênh lệch về giá trong hợp đồng mua bán so với hóa đơn giá trị gia tăng khi thực hiện hợp đồng với công ty TNHH C. Số tiền thực tế nguyên đơn đã chuyển cho công ty TNHH C là 6.195.342.875 đồng (Sáu tỷ một trăm chín năm triệu ba trăm bốn mươi hai nghìn tám trăm bảy mươi lăm đồng). Như vậy, so với số tiền nguyên đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại ban đầu có sự chênh lệch là 983.918.313 đồng (chín trăm tám mươi ba triệu chín trăm mười tám nghìn ba trăm mười ba đồng). Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với nội dung này. Áp dụng khoản 2 Điều 299 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối số tiền 983.918.313 đồng (chín trăm tám mươi ba triệu chín trăm mười tám nghìn ba trăm mười ba đồng).
- Xét nội dung giải quyết vụ án và yêu cầu kháng cáo:
- Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định giữa nguyên đơn và bị đơn đã xác lập 05 hợp đồng mua bán cà phê, các bên đã thỏa thuận về giá, thời hạn giao hàng, thỏa thuận về số tiền ký quỹ mà bị đơn phải gửi cho nguyên đơn với lãi suất 0.5%/tháng để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng như nêu ở trên. Mặc dù, bị đơn trình bày ý kiến cho rằng trong 05 hợp đồng mua bán với nguyên đơn có 02 hợp đồng không có chữ ký của bên đại diện hợp pháp của bị đơn và bị đơn không thừa nhận việc có giao dịch 05 hợp đồng mua bán cà phê với nguyên đơn, đồng thời phủ nhận lời khai của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án. Xét thấy, theo quy định tại Điều 24 của Luật Thương mại quy định về hình thức của hợp đồng mua bán có thể được thể hiện bằng lời nói. Nội dung này được chứng minh trong suốt quá trình tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đều thừa nhận bị đơn có giao dịch 05 hợp đồng mua bán hàng hóa với nguyên đơn, việc bị đơn phủ nhận lời khai của người đại diện theo ủy quyền là không phù hợp với quy định theo Điều 141 Bộ luật Dân sự, mặt khác tại đơn phản tố, chính người đại diện theo pháp luật của bị đơn thừa nhận có giao dịch với nguyên đơn 05 hợp đồng mua bán hàng hóa, tuy nhiên cho rằng việc không tiến tới thực hiện hợp đồng là do hoàn cảnh thay đổi cơ bản và đề nghị áp dụng Điều 420 của Bộ luật Dân sự không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Từ những phân tích nêu trên xét thấy yêu cầu kháng cáo của bị đơn đối với nội dung này là không có căn cứ để chấp nhận.
- Về xác định yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
- Về phạt vi phạm: Căn cứ vào các hợp đồng mua bán hàng hóa mà nguyên đơn và bị đơn đã giao kết với nhau có thỏa thuận phạt vi phạm trong trường hợp một trong các bên vi phạm hợp đồng. Xét thấy, tại các hợp đồng các bên thỏa thuận mức phạt vi phạm tương đương 8% giá trị hợp đồng chưa thực hiện là phù hợp với quy định tại Điều 300 và 301 Luật Thương mại. Như vậy, thỏa thuận này đã phát sinh hiệu lực đối với các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, công ty T không thực hiện nghĩa vụ giao hàng khi tới hạn đã vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng. Do đó việc nguyên đơn yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng theo giá trị 38.515.000.000 (giá trị hợp đồng chưa được thực hiện) x 8% = 3.081.200.000 đồng (ba tỷ không trăm tám mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng) và cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
- Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ vào 05 hợp đồng mua bán hàng hóa giữa nguyên đơn với bị đơn xác định thời hạn giao hàng chậm nhất là ngày 10/01/2024. Tuy nhiên khi đến hạn, bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết, các bên không có thỏa thuận khác để gia hạn hợp đồng đã ký. Để đảm bảo thực hiện hợp đồng với các đối tác nước ngoài đã ký cùng thời điểm ký kết hợp đồng với bị đơn, nguyên đơn phải ký với Công ty TNHH MTV C 03 hợp đồng mua bán cà phê để mua sản lượng cà phê tương ứng với số lượng cà phê theo hợp đồng mà nguyên đơn đã giao kết với bị đơn, cụ thể số tiền mà nguyên đơn phải bỏ ra để mua số lượng cà phê có sự chênh lệch giá là 6.195.342.857 đồng (sáu tỷ một trăm chín mươi năm triệu ba trăm bốn mươi hai nghìn tám trăm năm mươi bảy đồng). Mặc dù, hợp đồng giao kết giữa nguyên đơn với Công ty TNHH MTV C là không liên quan đến các hợp đồng giữa nguyên đơn và bị đơn đã ký kết. Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện hợp đồng đối với các đối tác nước ngoài đúng hạn đã giao kết và nhằm hạn chế những thiệt hại xảy ra do bị đơn không thực hiện hợp đồng giữa nguyên đơn với bị đơn, nên nguyên đơn đã khắc phục bằng việc mua hàng của bên thứ ba với giá thấp hơn giá tại thời điểm phải thực hiện hợp đồng với các đối tác nước ngoài khi đến hạn. Nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh cho thiệt hại nêu trên, gồm: Các hợp đồng mua bán cà phê, hóa đơn mua bán hàng hóa (cà phê), chứng từ chuyển tiền, tờ khai hàng hóa xuất khẩu (thông quan)... sau thời gian bị đơn vi phạm hợp đồng. Như vậy, có đủ căn cứ xác định do bị đơn vi phạm hợp đồng là nguyên nhân dẫn đến nguyên đơn phải mua số lượng cà phê tương ứng với số lượng cà phê theo hợp đồng các bên đã ký kết với giá cao hơn tại thời điểm giao kết hợp đồng với bị đơn để đảm bảo thực hiện hợp đồng với bên thứ ba dẫn đến nguyên đơn bị thiệt hại số tiền là 6.195.342.857 đồng (sáu tỷ một trăm chín mươi năm triệu ba trăm bốn mươi hai nghìn tám trăm năm mươi bảy đồng). Do vậy, việc cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Việc bị đơn kháng cáo cho rằng bị đơn không thực hiện được hợp đồng đối với nguyên đơn là do hoàn cảnh thay đổi cơ bản là không có căn cứ. Bởi lẽ, việc tăng, giảm giá là theo quy luật thị trường, nghĩa vụ của các bên khi giao kết hợp đồng phải lường trước và phải chấp nhận rủi ro nên không thuộc trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo quy định tại Điều 420 Bộ luật Dân sự.
- Đối với khoản tiền chênh lệch tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn đã tự nguyện rút yêu cầu do chứng cứ phía nguyên đơn cung cấp so với hợp đồng ký kết. Xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, mặc dù tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn vắng mặt, tuy nhiên căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng Dân sự, trong trường hợp này được coi là bị đơn chấp nhận nội dung này. Do vậy Hội đồng xét xử tuyên đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền chênh lệch là 983.918.313 đồng (chín trăm tám mươi ba triệu chín trăm mười tám nghìn ba trăm mười ba đồng).
- Quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm có một số sai sót mà cấp phúc thẩm cần nêu ra và sửa lại cho đúng. Theo hợp đồng mua bán giữa nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận về số tiền ký quỹ, theo đó bị đơn đã chuyển cho nguyên đơn số tiền 438.000.000 đồng (bốn trăm ba mươi tám triệu đồng) và có thỏa thuận lãi suất để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng. Lẽ ra trong trường hợp này do bị đơn vi phạm hợp đồng dẫn đến hợp đồng xác lập giữa các bên bị hủy bỏ. Khi hợp đồng bị hủy bỏ các bên sẽ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm chỉ nhận định đối với số tiền 438.000.000 đồng (bốn trăm ba mươi tám triệu đồng) mà không tuyên trong phần quyết định là thiếu sót, giải quyết chưa toàn diện, triệt để. Mặc khác, việc cấp sơ thẩm tuyên khấu trừ trực tiếp số tiền mà nguyên đơn phải trả cho bị đơn vào số tiền bị đơn phải chịu phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn là không đúng quy định của pháp luật. Lẽ ra, Tòa án cấp sơ thẩm phải tuyên từng khoản tiền theo nghĩa vụ các bên phải thực hiện mới đúng. Do cấp sơ thẩm không tuyên khoản tiền nguyên đơn phải trả lại cho bị đơn mà khấu trừ trực tiếp vào số tiền bị đơn có nghĩa vụ bồi thường cho nguyên đơn dẫn đến không xem xét đến số tiền án phí mà nguyên đơn phải chịu là có thiếu sót. Do đó Hội đồng xét xử cần tuyên lại cho đúng, sửa lại phần án phí mà nguyên đơn phải chịu đối với số tiền phải trả cho bị đơn bao gồm số tiền gốc là 438.000.000 đồng (bốn trăm ba mươi tám triệu đồng) và tiền lãi trên số tiền gốc theo hợp đồng các bên đã thỏa thuận đến ngày xét xử sơ thẩm là 18.110.667 đồng (mười tám triệu một trăm mười nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Tổng số tiền nguyên đơn phải trả cho bị đơn là 456.110.667 đồng (bốn trăm năm mươi sáu triệu một trăm mười nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
- Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
- Từ những vấn đề phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn.
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Mặc dù tại phiên tòa nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên theo quy định tại khoản 2 Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự thì bị đơn vẫn phải chịu án phí theo bản án sơ thẩm. Do vậy, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm như bản án sơ thẩm đã tuyên.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị sửa một phần. Do đó người kháng cáo không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Trả lại cho bị đơn số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hấp nhận một phần kháng cáo của Công ty TNHH MTV T, sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 01/2024/KDTM-ST ngày 19-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
Căn cứ Điều Điều 227, Điều 228 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 300 và Điều 301 của Luật thương mại; khoản 1 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Đình chỉ giải quyết đối với một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV X đối với số tiền 983.918.313 đồng (chín trăm tám mươi ba triệu chín trăm mười tám nghìn ba trăm mười ba đồng).
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV X. Buộc Công ty TNHH MTV T phải chịu phạt vi phạm hợp đồng số tiền 3.081.200.000 đồng (ba tỷ không trăm tám mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng) và bồi thường thiệt hại số tiền 6.195.342.857 đồng (sáu tỷ một trăm chín mươi năm triệu ba trăm bốn mươi hai nghìn tám trăm năm mươi bảy đồng). Tổng số tiền là 9.276.542.857 đồng (chín tỷ hai trăm bảy mươi sáu triệu năm trăm bốn mươi hai nghìn tám trăm năm mươi bảy đồng). Buộc Công ty TNHH MTV X phải hoàn trả lại cho Công ty TNHH MTV T số tiền gốc đã nhận là 438.000.000 đồng (bốn trăm ba mươi tám triệu đồng) và 18.110.667 đồng (mười tám triệu một trăm mười nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng) tiền lãi. Tổng số tiền là 456.110.667 đồng (bốn trăm năm mươi sáu triệu một trăm mười nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự.
- Về án phí:
- Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: 4.1.1. Buộc Công ty TNHH MTV T (người đại diện theo pháp luật ông Đoàn Quang V) phải chịu 118.260.461 đồng (một trăm mười tám triệu hai trăm sáu mươi nghìn bốn trăm sáu mốt đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.060.000 đồng (mười một triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004090, ngày 03 tháng 04 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông; Công ty TNHH MTV T còn phải nộp tiếp số tiền 110.200.461 đồng (một trăm mười triệu hai trăm nghìn bốn trăm sáu mốt đồng). 4.1.2. Buộc Công ty TNHH MTV X phải chịu 44.469.000đ (bốn mươi bốn triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 59.131.000 đồng (năm mươi chín triệu một trăm ba mươi mốt nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004011 ngày 30-01-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông; Trả lại cho Công ty TNHH MTV X (người đại diện theo pháp luật ông Lê Tiến H) số tiền 14.662.000 đồng (mười bốn triệu sáu trăm sáu mươi hai nghìn đồng).
- Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Công ty TNHH MTV T (người đại diện theo pháp luật ông Đoàn Quang V) không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Trả lại cho Công ty TNHH MTV T (người đại diện theo pháp luật ông Đoàn Quang V) số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) tạm ứng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004276 ngày 19-8-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Ửng |
Bản án số 03/2025/KDTM-PT ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 03/2025/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn. Sửa bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm
