|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST Ngày 04/3/2025. “V/v Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc Hà
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Bẩy.
- Ông Tống Đăng Mạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Chung - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chũ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXX - HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025 giữa:
- - Nguyên đơn: Chị Leo Thị H, sinh năm 1983 (vắng mặt, có đơn xin vắng)
- Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- - Bị đơn: Anh Vũ Văn N, sinh năm 1983 ((vắng mặt, có đơn xin vắng)
- Địa chỉ: TDP B, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 25/7/2024, những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Leo Thị H trình bày:
Chị và anh Vũ Văn N kết hôn với nhau vào năm 2023, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L (nay là phường T, thị xã C), tỉnh Bắc Giang. Cưới xong chị về nhà anh N làm dâu ngay và sinh sống tại tổ dân phố B, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc nhưng đến khoảng tháng 5/2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống hàng ngày. Chị và anh N đã ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm đến ai, chị về nhà mẹ đẻ sinh sống tại thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nay thấy vợ chồng tình cảm đã không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Văn N.
Về con chung: Chị và anh N chưa có con chung nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị và anh N không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/02/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Vũ Văn N trình bày:
Anh và chị Leo Thị Hòa kết H1 với nhau năm 2023. Trước khi kết hôn anh chị có được tự do tìm hiểu, được gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương và đi đăng ký kết hôn tại UBND xã U, huyện L (nay là phường T, thị xã C), tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới chị H về nhà anh làm dâu và sinh sống tại tổ dân phố B, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. Ban đầu tình cảm vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, chị H có căn nên thường xuyên bỏ nhà đi. Vợ chồng đã sống ly thân anh từ tháng 4/2024 đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, chị H xin ly hôn thì anh đồng ý ly hôn với chị H.
Về con chung: Anh xác định anh và chị H không có con chung nên anh không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh xác định anh và chị H không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Leo Thị H và bị đơn là anh Vũ Văn N đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử công bố lời khai của chị Leo Thị H và anh Vũ Văn N trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án và ý kiến về thủ tục tố tụng của Toà án trong quá trình thụ lý cũng như giải quyết vụ án và sự chấp hành pháp luật của các đương sự theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 3; 6; 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Leo Thị H được ly hôn với anh Vũ Văn N.
- - Về quan hệ con chung, tài sản và công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- - Về án phí: Chị Leo Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Leo Thị H khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân thị xã Chũ giải quyết ly hôn với anh Vũ Văn N có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố B, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.
[2] Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Chị Leo Thị H và anh Vũ Văn N kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L (nay là phường T, thị xã C), tỉnh Bắc Giang ngày 11/8/2023, như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Leo Thị H và anh Vũ Văn N là hợp pháp. Quá trình chung sống: Chị Leo Thị H xác định vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống hàng ngày và đã ly thân từ tháng 5/2024 đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Văn N.
Anh Vũ Văn N cũng xác định vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp nhau, chị H có căn nên thường xuyên bỏ nhà đi nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 4/2024 đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng đã không còn nên chị H xin ly hôn thì anh đồng ý ly hôn với chị H.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt chị Leo Thị H và anh Vũ Văn N cùng có ý kiến giữ nguyên lời khai đã trình bày.
Hội đồng xét xử nhận thấy, mặc dù chị Leo Thị H và anh Vũ Văn N đưa ra các nguyên nhân khác nhau nhưng cả hai đều xác định có mấu thuẫn, không có tiếng nói chung, anh chị ly thân nhau đã lâu và tình cảm vợ chồng đã không còn. Chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị Leo Thị H và anh Vũ Văn N đã căng thẳng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét chị Leo Thị H và anh Vũ Văn N mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, không thể hòa giải được nữa. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Leo Thị H, cho chị Leo Thị H được ly hôn với anh Vũ Văn N là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4]. Về con chung. tài sản chung, công nợ chung: Leo Thị H và anh Vũ Văn N cùng xác định vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung và không liên quan vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì vậy Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Leo Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 3; 6; 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và tiểu mục 1.1 mục 1 phần II danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 3; 6; 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Leo Thị H.
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Leo Thị H được ly hôn với anh Vũ Văn N.
- Về quan hệ con chung, tài sản và công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Leo Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng chẵn) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006473 ngày 15/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn. Khoản tiền này được chuyển thành án phí, chị H không phải nộp án phí nữa.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản được niêm yết công khai./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Ngọc Hà |
Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Leo THị H - Vũ Văn N
