|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
1
Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST
Ngày 27 tháng 02 năm 2025
V/v: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vi Thị Khuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Thái Thị Ly;
- 2. Bà Bùi Thị Nga.
- Thư ký phiên toà: Ông Quang Thái Tài - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Và Bá Của- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 82/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXX-ST ngày 20 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2025/QĐST-DS ngày 10/02/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Moong Khăm T, sinh năm 1957.
Nơi cư trú: Bản K, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Bà Lương Mẹ L, sinh năm 1970.
Nơi cư trú: Bản K, xã H, huyện K, Nghệ An. Vắng mặt (Không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại phiên tòa nguyên đơn ông Moong Khăm T vắng mặt, tuy nhiên theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Moong Khăm T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Lương Mẹ L tiến hành đăng kết hôn vào ngày 17/09/2020 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm về thủ tục và điều kiện kết hôn. Thời gian đầu khi mới lấy nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc, yêu thương nhau cùng nhau vun vén, xây dựng gia đình, khoảng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách hai bên có sự khác biệt, vợ chồng không có tiếng nói chung, không thể hòa hợp trong cuộc sống, bà Lương Mẹ L không quan tâm chăm sóc tới gia đình. Hai bên đã cố gắng hàn gắn nhưng không thể hòa giải. Ông Moong Khăm T và bà Lương Mẹ L đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Hiện ông Moong Khăm T không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Lương Mẹ L.
Về con chung: Ông Moong Khăm T và bà Lương Mẹ L không có con chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Ông Moong Khăm T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa: Sau khi thụ lý đơn khởi kiện, thông báo thụ lý vụ án, qua xác minh bà Lương Mẹ L thường xuyên vắng mặt tại địa phương, đi đâu và làm gì không ai biết, thỉnh thoảng có trở về địa phương thăm gia đình, hiện nay bà Lương Mẹ L không khai báo về việc thay đổi nơi cư trú, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã H và tại bản K, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An là nơi cư trú cuối cùng của bị đơn. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Lương Mẹ L vẫn vắng mặt, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng quy định tại Điều 204, 207, 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền, xác định quan hệ tranh chấp; Trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ, tống đạt đảm bảo quyền của đương sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự từ Điều 239 đến Điều 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của Thư ký phiên tòa được thực hiện đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Về hôn nhân: Cho ông Moong Khăm T và bà Lương Mẹ L được ly hôn; về con chung: Ông Moong Khăm T và bà Lương Mẹ L không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn ông Moong Khăm T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; về án phí: Miễn án phí ly hôn sơ thẩm cho ông Moong Khăm T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Moong Khăm T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Lương Mẹ L có địa chỉ cư trú tại xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt các quyết định của Tòa án. Tại phiên tòa nguyên đơn ông Moong Khăm T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Lương Mẹ L thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không chấp hành các quyết định của Tòa án, gây khó khăn cho công tác điều tra, thu thập chứng cứ. Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt cho đương sự hợp lệ nhiều lần nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại Điều 207 và Điều 227 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Moong Khăm T và bà Lương Mẹ L tự nguyện kết hôn sau một thời gian tìm hiểu, kết hôn đúng điều kiện, nơi đăng ký kết hôn là tại UBND xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Thời gian đầu khi mới lấy nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc, yêu thương nhau cùng nhau vun vén, xây dựng gia đình, khoảng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách hai bên không hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung, không thể hòa hợp trong cuộc sống, bà Lương Mẹ L không quan tâm chăm sóc tới gia đình. Hai bên đã cố gắng hàn gắn nhưng không thể hòa giải. Ông Moong Khăm T và bà Lương Mẹ L đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Xét thấy, hôn nhân của ông Moong Khăm T và bà Lương Mẹ L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho ông Moong Khăm T được ly hôn với bà Lương Mẹ L.
[3.2] Về con chung: Ông Moong Khăm T và bà Lương Mẹ L không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.3] Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Nguyên đơn ông Moong Khăm T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
[5] Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm cho nguyên đơn ông Moong Khăm T.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Moong Khăm T.
- Về hôn nhân: Cho ông Moong Khăm T được ly hôn với bà Lương Mẹ L.
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm cho nguyên đơn ông Moong Khăm T.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn ông Moong Khăm T và bị đơn bà Lương Mẹ L vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vi Thị Khuyên |
Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn
- Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Moong Khăm T và bà Lương Mẹ L tự nguyện kết hôn sau một thời gian tìm hiểu, kết hôn đúng điều kiện, nơi đăng ký kết hôn là tại UBND xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Thời gian đầu khi mới lấy nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc, yêu thương nhau cùng nhau vun vén, xây dựng gia đình, khoảng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách hai bên không hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung, không thể hòa hợp trong cuộc sống, bà Lương Mẹ L không quan tâm chăm sóc tới gia đình. Hai bên đã cố gắng hàn gắn nhưng không thể hòa giải. Ông Moong Khăm T và bà Lương Mẹ L đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay
