|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 02/2025/DS-ST Ngày 26 - 02 - 2025 V/v “Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Đoàn Thị Kim Thương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thảo Nguyên;
Ông Bùi Văn Thảng.
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Kim Khánh Duy- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhi- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 49/2024/TLST- DS ngày 10 tháng 10 năm 2024, về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 01/2025/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Phước H; địa chỉ: Khu phố C, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.
- Bị đơn: Ông Lê Phước M và bà Hồ Thị Bảo Y; cùng địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; ông M có mặt, bà Y vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Phước B:
- + Ông Lê Phước H1; địa chỉ: Khu phố H, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- + Bà Lê Thị M1, ông Lê Phước B1, bà Lê Thị T và ông Lê H2; cùng địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- + Ông Lê Phước D; địa chỉ: Ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; địa chỉ: Xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
- + Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q, địa chỉ: B H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- + Quỹ tín dụng Nhân dân H3; địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; có đơn đề nghị không tham gia tố tụng.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Đức A, địa chỉ: E L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (Văn bản ủy quyền ngày 24/10/2024), có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/8/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Phước H và người đại diện của nguyên đơn trình bày:
Hộ gia đình ông H gồm có bố Lê Phước B (sinh năm 1938, chết tháng 10/2024), mẹ Lê Thị Đ (sinh năm 1940, chết tháng 01/2024), em trai Lê Phước M và ông H được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện H cấp diện tích đất 619m² tại đội 3, thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 367574 ngày 30/11/2006, thuộc thửa đất số 812/1, tờ bản đồ số 14.
Ngày 22/10/2018, bà Hồ Thị Bảo Y tự ý làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, nội dung ông B, bà Đào T1 cho vợ chồng Lê Phước M và Hồ Thị Bảo Y toàn bộ thửa đất, hợp đồng được chứng thực tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị số 130, quyển số 01/2018-SCT/HĐGD. Ngày 05/11/2018, ông M, bà Y được Sở T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 512026.
Thửa đất được cấp cho hộ gia đình, ông B và bà Đào T1 cho ông M, bà Y nhưng ông H không biết và chưa được sự đồng ý của ông H. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông M, bà Y là ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của ông H.
Ông H khởi kiện, yêu cầu:
- + Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 22/10/2018 giữa bên tặng cho ông Lê Phước B, bà Lê Thị Đ với bên nhận tặng cho Lê Phước M, Hồ Thị Bảo Y được chứng thực tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị số 130, quyển số 01/2018-SCT/HĐGD, vô hiệu.
- + Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 512026 ngày 05/11/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp cho ông Lê Phước M, bà Hồ Thị Bảo Y, khôi phục lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Lê Phước B, bà Lê Thị Đ.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Phước M trình bày:
Năm 2018, ông M và bà Y được bố mẹ của ông lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và đã được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 512026 ngày 05/11/2018, tại thời điểm tặng cho trên đất có ngôi nhà bố mẹ ông M làm từ năm 2004, vợ chồng ông M và con cái sống cùng bố mẹ, sau khi nhận tặng cho ngôi nhà không sửa chữa gì thêm. Nay ông H cho rằng thửa đất của hộ gia đình có phần của ông H nên yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông M đồng ý. Còn đối với bà Y, ông M đã thông tin lại cho bà Y biết thì bà Y có ý kiến là tùy Tòa án giải quyết và bà Y không liên quan.
Bị đơn bà Hồ Thị Bảo Y không có ý kiến bằng văn bản, không tham gia tố tụng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã H, huyện H không có ý kiến bằng văn bản.
Ý kiến Sở Tài nguyên và Môi Trường tỉnh Q: Hộ ông Lê Phước B và bà Lê Thị Đ được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 367574 ngày 30/11/2006, với diện tích đất 619m² (200m² đất ở và 419m² đất trồng cây hàng năm khác) thuộc thửa đất số 812/1, tờ bản đồ số 14, tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Ngày 23/10/2018, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H nhận hồ sơ đăng ký biến động của ông Lê Phước M, bà Hồ Thị Bảo Y do nhận tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên của hộ ông Lê Phước B, hợp đồng tặng cho có văn bản can kết nhân thân đã được UBND xã H chứng thực ngày 22/10/2018. Quá trình giải quyết hồ sơ, đã thẩm tra hồ sơ đủ điều kiện. Sở tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 512026 ngày 05/11/2018 cho ông M, bà Y được thực hiện theo trình tự thủ tục tại Điều 188 Luật Đất đai năm 2013; Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; khoản 2 Điều 9 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T2.
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Phước M, bà Hồ Thị Bảo Y là đúng quy định của pháp luật, do đó đề nghị Tòa án không công nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Phước H1 và ông Lê Phước D không có ý kiến bằng văn bản.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị M1, ông Lê Phước B1, bà Lê Thị T và ông Lê H2 trình bày: Đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Văn bản trình bày ý kiến ngày 07/11/2024, Quỹ tín dụng nhân dân Hải P trình bày: Hiện tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 512026 ngày 05/11/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp cho ông Lê Phước M và bà Hồ Thị Bảo Y không thế chấp tại Quỹ tín dụng. Đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt Quỹ tín dụng nhân dân H.
Phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, tham gia phiên tòa theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 129, Điều 130, Điều 212, Điều 218 Bộ luật Dân sự; Điều 3 Luật Đất đai năm 2013, Điều 64 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và Điều 14 Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT ngày 27/01/2015 của Bộ T2; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí. Đề nghị HĐXX tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Phước H:
- + Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 22/10/2018 giữa bên tặng cho là ông Lê Phước B và bà Lê Thị Đ và bên được tặng cho ông Lê Phước M, bà Hồ Thị Bảo Y, cùng địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, được chứng thực tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị số 130, quyển số 01/2018-SCT/HĐGD vô hiệu;
- + Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 512026 được UBND huyện H, tỉnh Quảng Trị cấp ngày 05/11/2018 mang tên ông Lê Phước M, bà Hồ Thị Bảo Y;
- + Kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những người thừa kế của ông Lê Phước B và bà Lê Thị Đ.
- Về án phí: Nguyên đơn ông Lê Phước H tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng và tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Xác định tư cách tham gia tố tụng: Quỹ tín dụng nhân dân Hải P là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án thấy rằng Quỹ tín dụng nhân dân Hải Phú không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan đến vụ án, căn cứ Điều 68 và Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đưa Quỹ tín dụng nhân dân H ra khỏi tư cách tham gia tố tụng trong vụ án.
[1.2] Vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Hồ Thị bảo Y; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Phước H1, ông Lê Phước D, UBND xã H và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt họ.
[1.3] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Lê Phước H khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 22/10/2018 giữa bên tặng cho ông Lê Phước B, bà Lê Thị Đ với bên nhận tặng cho ông Lê Phước M, bà Hồ Thị Bảo Y có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Lê Phước M, bà Hồ Thị Bảo Y, căn cứ khoản 3 Điều 26 và khoản 4 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ tranh chấp “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn:
[2.1] Xem xét về hình thức Hợp đồng: Ông Lê Phước B, bà Lê Thị Đ với ông Lê Phước M, bà Hồ Thị Bảo Y lập “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”, với nội dung ông B, bà Đào T1 cho ông M, bà Y quyền sử dụng đất diện tích 619m², trong đó đất ở 200m² đất trồng cây 419m² thuộc thửa số 812/1, tờ bản đồ số 14, tại Đội 3, thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 367574 do UBND huyện H cấp ngày 30/11/2006. Trên cơ sở Hợp đồng các bên ký kết, ngày 22/10/2018, UBND xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị đã chứng thực Hợp đồng, có số chứng thực 130; quyển số 01/2018-SCT/HĐGD.
[2.2] Xem xét nguồn gốc và việc tặng cho quyền sử dụng đất: Diện tích đất 619m² ông B, bà Đào T1 cho có nguồn gốc vào năm 2006 đã được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện H, tỉnh Quảng Trị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 367574 ngày 30/11/2006 cho hộ ông Lê Phước B, bà Lê Thị Đ tại Đ, thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Theo khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai thì “ Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống ...đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất”. Tại thời điểm cấp đất năm 2006, theo Đơn xin xác nhận ngày 08/5/2024 Công an xã H xác nhận hộ gia đình gồm ông Lê Phước B (chủ hộ), bà Đ (vợ) và các con là ông Lê Phước H, Lê Phước M. Như vậy, xác định được diện tích 619m² đất là tài sản chung trong hộ gia đình ông B, bà Đ, ông H và ông M.
Khoản 2 Điều 212 Bộ luật dân sự quy định:
“2. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận. Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác”.
Ông B, bà Đ có Văn bản cam kết nhân thân tại thời điểm ký kết, đây là Văn bản tự cam kết, không đúng với thành viên hộ gia đình. Người được tặng cho ông M cũng thừa nhận ông H là thành viên hộ gia đình tại thời điểm cấp đất và đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông H. Do đó, việc ông B, bà Đào T1 cho toàn bộ quyền sử dụng đất trong đó có quyền của ông H nhưng chưa được ông H đồng ý mà vẫn ký kết Hợp đồng là đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông H, hành vi đó vi phạm điều cấm của pháp luật quy định tại Điều 123 Bộ luật dân sự, nên vô hiệu quy định tại Điều 407 Bộ luật dân sự.
[2.3] Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ trên diện tích 619m² đất tặng cho còn có ngôi nhà hiện vợ chồng và các con ông M đang ở, theo ông M cung cấp thì ngôi nhà do ông B, bà Đ xây dựng từ năm 2004, sau khi nhận tặng cho thì vợ chồng ông M không sửa chữa, xây dựng gì thêm.
[2.4] Về yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
- Về thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận: Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 512026 ngày 05/11/2018 cho ông Lê Phước M, bà Hồ Thị Bảo Y là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật đất đai 2013.
- Về trình tự, thủ tục: Ngày 22/10/2018, ông B và bà Đ thực hiện tặng cho quyền sử dụng đất diện tích 619m² cho ông M, bà Y, hợp đồng được chứng thực tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Trên cơ sở thẩm tra của cơ quan chuyên môn, Sở T đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 512026 ngày 05/11/2018 cho ông M, bà Y với diện tích 619m² là đúng theo thủ tục, trình tự quy định tại Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai 2013.
- Về nội dung: Như phân tích ở mục [2.2], Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 22/10/2018, giữa bên tặng cho ông B, bà Đ với bên được tặng cho ông M, bà Y vô hiệu nên việc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 512026 ngày 05/11/2018 cho ông M, bà Y xuất phát từ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu nên không có giá trị. Vì vậy, cần phải hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này và kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông B để đảm bảo quyền lợi cho ông H.
[3] Xem xét về hậu quả hợp đồng: Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, kết quả trên thửa đất tặng cho có ngôi nhà ông B, bà Đ xây dựng từ năm 2004, sau khi nhận tặng cho thì vợ chồng ông M không sửa chữa, xây dựng gì thêm đồng thời các bên đương sự không ai có yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử chấp thuận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[5] Về chi phí tố tụng và án phí: Nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 4.480.000 đồng (đã nộp đủ) và án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 4 Điều 34; Điều 147; Điều 157 và khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 123; Điều 459 và Điều 407 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 166 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Phước H:
- + Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho ông Lê Phước B, bà Lê Thị Đ và bên nhận tặng cho ông Lê Phước M, bà Hồ Thị Bảo Y được Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị chứng thực ngày 22/10/2018, số chứng thực 130; quyển số 01/2018-SCT/HĐGD, vô hiệu;
- + Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 512026 ngày 05/11/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp cho ông Lê Phước M, bà Hồ Thị Bảo Y;
- + Kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông Lê Phước B, bà Lê Thị Đ là ông Lê Phước H1, bà Lê Thị M1, ông Lê Phước B1, bà Lê Thị T, ông Lê H2, ông Lê Phước D, ông Phước H và ông Lê Phước M với diện tích đất 619m² (200m² đất ở nông thôn, 419m² đất trồng cây hàng năm khác) thuộc thửa số 812, tờ bản đồ số 14; địa chỉ thửa đất tại Đ, thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị.
- Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu 4.480.000 đồng và đã nộp đủ.
- Về án phí: Ông Lê Phước H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000154 ngày 07/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị. Ông H đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Kim Thương |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán chủ tọa |
| Nguyễn Văn Thảo Nguyên Bùi Văn Thảng | Đoàn Thị Kim Thương |
Bản án số 02/2025/DS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 02/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Phước H - Lê Phước M, Hồ Thị Bảo Y
