|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST Ngày 25 - 02 - 2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Trọng
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn An và bà Đỗ Thị Kim Thúy
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Thuỳ Dương - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 23/2024/TLST-HNGĐ về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Đào Quang T, sinh năm 1985.
- Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã P, huyện T, thành phố Hà Nội.
- Nơi ở hiện nay: Số A, inaba 1731 – 70, K, thành phố N, tỉnh Nagano, Nhật Bản, “vắng mặt”.
- - Bị đơn: Chị Phan Thị Mỹ L, sinh năm 1985
- Địa chỉ hiện nay: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 10/6/2024 và quá trình tố tụng nguyên đơn anh Đào Quang T trình bày:
Anh và chị Phan Thị Mỹ L kết hôn với nhau vào ngày 10/5/2016, có đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã P, huyện T, Thành Phố Hà Nội. Trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc lừa dối. Sau khi kết hôn anh chị về sống chung với nhau tại Thôn T, xã P, huyện T, P Phố H. Quá trình chung sống ban đầu hạnh phúc nhưng đến năm 2021 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung. Sau đó anh T đã đi sang Nhật Bản để làm kinh tế, vợ chồng không còn quan tâm hỏi han đến nhau, vợ chồng ly thân nhau từ năm 2021 đến nay. Anh nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị L.
- - Về con chung: Anh và chị L có 2 con chung là cháu Đào Linh N, sinh ngày 04 tháng 01 năm 2017 và cháu Đào Thanh T1, sinh ngày 20 tháng 3 năm 2019. Kể từ khi ly thân đến nay 2 cháu đều sống cùng chị L và do chị L nuôi dưỡng. Ly hôn anh đồng ý để chị L nuôi cả 2 cháu, anh cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/1cháu/1tháng kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2025 đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
- - Về tài sản chung, tài sản riêng, vay nợ, công sức: Anh không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Phan Thị Mỹ L trình bày: Chị xác nhận về thời gian kết hôn, quá trình chung sống như anh T trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống cùng nhau tại Thôn T, xã P, huyện T, Thành Phố Hà Nội. Quá trình chung sống ban đầu vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến khoảng năm 2021 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không có tiếng nói chung, bất đồng về kinh tế gia đình, vợ chồng không còn hòa hợp, thường xuyên xích mích, cãi cọ nhau. Năm 2021 anh T sang Nhật Bản làm ăn kinh tế, hai vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, vợ chồng không còn quan tâm hỏi han gì đến nhau.
Gia đình hai bên cũng nhiều lần hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ nhưng đến nay vẫn không hàn gắn được. Bản thân chị đã nhiều lần định làm đơn ly hôn với anh T nhưng nghĩ đến các con còn nhỏ nên thôi.
Do 2 vợ chồng sống ly thân đã lâu và cũng không còn liên lạc nên, nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được nên chị cũng đồng ý ly hôn anh T
- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Đào Linh N, sinh ngày 04/01/2017 và cháu Đào Thanh T1, sinh ngày 20/3/2019. Hiện nay 2 cháu đang ở cùng chị và do chị trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn chị đề nghị được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng 2 cháu, đề nghị anh T cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/1cháu/1tháng (02 cháu 4.000.000đ/1 tháng), kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2025 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, vay nợ và công sức: Chị không đề nghị Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã tuân thủ, đảm bảo đúng trình tự, thủ tục từ khi thụ lý đến tại phiên tòa sơ thẩm; người tham gia tố tụng đã được thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, xử cho anh Đào Quang T được ly hôn chị Phan Thị Mỹ L.
Về con chung: Giao cháu Đào Linh N, sinh ngày 04/01/2017 và cháu Đào Thanh T1, sinh ngày 20/3/2019 cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/1cháu/1tháng (02 cháu 4.000.000đ/1 tháng), kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2025 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.
Về tài sản: Anh chị không đề nghị giải quyết nên không xem xét.
Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án và xác nhận về nơi cư trú, nguyên đơn anh Đào Quang T, hiện đang sinh sống tại Nhật Bản và có đơn khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về con chung khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- . Tại Công văn số 26597/QLXNC-P3 ngày 07/11/2024 của Cục Q – Bộ C cung cấp thông tin anh Đào Quang T sử dụng hộ chiếu số K0594322, xuất cảnh lần gần nhất ngày 11/11/2022 qua cửa khẩu Sân bay quốc tế N1, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Do đó khi Tòa án thụ lý vụ án, nguyên đơn anh Đào Quang T đang lao động tại Nhật Bản. Ngày 30/12/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc nhận được Bản tự khai, Đơn xin giải quyết xét xử vắng mặt và Căn cước công dân của anh Đào Quang T do dịch vụ bưu chính chuyển đến có chứng thực của Đ tại Nhật Bản, anh T có yêu cầu được ly hôn chị L.
Căn cứ Điều 94, Điều 95 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định các tài liệu trên là chứng cứ để giải quyết vụ án.
Ngày 06/01/2025, Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc nhận được đơn xin xét xử vắng mặt của chị Phan Thị Mỹ L đề ngày 06/01/2025.
Căn cứ khoản 5 Điều 477, khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt anh Đào Quang Thắng và chị Phan Thị Mỹ L theo quy định.
- Về nội dung khởi kiện:
- Về yêu cầu xin ly hôn: Anh Đào Quang T và chị Phan Thị Mỹ L kết hôn với nhau vào ngày 10/5/2016, có đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã P, huyện T, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn anh chị chung sống cùng nhau tại Thôn T, xã P, huyện T, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống ban đầu vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến khoảng năm 2021 anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng về kinh tế gia đình, tình cảm vợ chồng không còn hòa hợp nên thường xuyên xích mích, cãi cọ nhau.
- Năm 2021 anh T sang Nhật Bản làm ăn kinh tế, hai vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, vợ chồng không còn quan tâm hỏi han gì đến nhau. Gia đình hai bên cũng nhiều lần hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ nhưng đến nay vẫn không hàn gắn được. Bản thân chị L đã nhiều lần định làm đơn ly hôn với anh T nhưng nghĩ đến các con còn nhỏ nên thôi. Do 2 vợ chồng sống ly thân đã lâu và cũng không còn liên lạc quan tâm gì đến nhau, nên nay anh chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được nên đề nghị Toà án giải quyết cho anh chị được ly hôn.
- Như vậy, hôn nhân của anh T và chị L đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thấy đề nghị của anh T và chị Mỹ L là chính đáng nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T, cho anh T được ly hôn chị L.
- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Đào Linh N, sinh ngày 04/01/2017 và cháu Đào Thanh T1, sinh ngày 20/3/2019. Hiện nay 2 cháu đang ở cùng chị L và do chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn anh T, chị L thống nhất để chị L được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng giáo dục 2 cháu, anh T cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/1cháu/1tháng (02 cháu 4.000.000đ/1 tháng), kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2025 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
- Về tài sản: Anh Đào Quang T và chị Phan Thị Mỹ L đều không đề nghị Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Đào Quang T phải chịu theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên toà là có cơ sở, cần chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 56; các Điều 57, 58, 81, 82, 83 và 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm c khoản 1 Điều 37, các Điều 469, 478 và 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Anh Đào Quang T được ly hôn chị Phan Thị Mỹ L.
- Về con chung: Giao cho chị Phan Thị Mỹ L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đào Linh N, sinh ngày 04/01/2017 và cháu Đào Thanh T1, sinh ngày 20/3/2019. Anh T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L số tiền 2.000.000 đồng/1cháu/1tháng (hai cháu 4.000.000đ/1 tháng) kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2025 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
- Về tài sản: Anh chị không đề nghị nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Anh Đào Quang Thắng phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0007486 ngày 17 tháng 10 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc (do anh Mai Văn T2 nộp thay). Anh T còn phải nộp tiếp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
- Nguyên đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Nguyễn Xuân Trọng |
Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
