Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HSST

Ngày: 25/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Bình; bà Dương Thị Thắm.

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 25/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2025/TLST-HS ngày 16/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 12/02/2025 đối với bị cáo:

Đỗ Văn L - Sinh năm 1991, tại xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; KHTT: Thôn E, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn P và bà Hoàng Thị M; chưa có vợ con; tiền sự: Không; tiền án:

  • Tại bản án số 01/2009/HSST ngày 02/01/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Tại bản án số 07/2010/HSST ngày 25/6/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 06 tháng tù, cộng 09 tháng tù cho hưởng án treo của bản án số 01/2009/HSST ngày 02/01/2009, tổng hợp hình phạt chung là 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt và nghĩa vụ của bản án.
  • Tại bản án số 13/2012/HSST ngày 15/8/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt và nghĩa vụ của bản án.
  • Tại bản án số 35/2013/HSST ngày 30/10/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt và nghĩa vụ của bản án.
  • Tại bản án số 41/2016/HSST ngày 23/12/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt và nghĩa vụ của bản án.
  • Tại bản án số 38/2020/HSST ngày 28/8/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 45 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt và nghĩa vụ của bản án.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/11/2024 đến ngày 10/11/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng:

1/ Anh Trần Ngọc P1 - Sinh năm 2006 - Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.

2/ Anh Mai Văn C - Sinh năm 1994 - Địa chỉ: Thôn D H, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06h40” ngày 03/11/2024, nhận được phản ánh của quần chúng nhân dân về việc tại khu vực gần khách sạn N, thuộc tiểu khu H, thị trấn N, có đối tượng nghi vấn sử dụng ma túy, Công an huyện N đã cử lực lượng đến kiểm tra, xác minh phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn nên đã tiếp cận, kiểm tra. Quá trình kiểm tra nam thanh niên khai nhận tên là Trần Ngọc P1 (sinh năm 2006, trú tại thôn T, xã N, huyện N), Cơ quan chức năng phát hiện trong túi quần bên trái, phía trước của Trần Ngọc P1 có 01 (một) túi nilon trong suốt, kích thước (3x2,5) cm, bên trong chứa chất bột màu trắng, dạng tinh thể. P1 khai nhận đây là ma túy, P1 mua của Đỗ Văn L (sinh năm 1991, ở xã N, huyện N) vào tối ngày 02/11/2024 mang theo người với mục đích sử dụng. Công an huyện N đã tiến hành lập biên bản, tạm giữ, niêm phong tang vật và 01 (một) chiếc điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Masstel, số Imei 1: 350401561365467, Imei 2: 350401561365475, bên trong gắn 01 sim số 0924.383.267, đã qua sử dụng.

Ngày 04/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Đỗ Văn L về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, đồng thời tạm giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A73 5G, màu đen, có số Imei 1: 863338050598499, Imei 2: 863338050598481, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0383.285.620 và sim số 0928.911.081 phục vụ công tác điều tra.

Cơ quan CSĐT, Công an huyện N đã tiến hành khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Đỗ Văn L tại thôn E, xã N, huyện N không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Quá trình điều tra xác định được: Vào khoảng 20h00” ngày 02/11/2024, khi L đang ở nhà nghỉ H2 tại xã N, huyện N, thì Trần Ngọc P1 sử dụng Facebook mang tên Hồ Quang Đ" gọi vào Facebook mang tên “Đỗ L” của L hỏi có ma túy không, bán cho P1 một chỉ ma túy Ketamine và 01 viên ma tuý tổng hợp dạng “kẹo”. L trả lời “không có, để hỏi”. Sau đó, L gọi vào Facebook mang tên “Phạm Văn H” cho người đàn ông tên H ở xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình mà L quen trước đó để hỏi mua một chỉ ma túy Ketamine và 01 viên ma tuý tổng hợp dạng “kẹo”. H đồng ý và báo giá cho L tổng số tiền là 2.300.000₫ gồm: 1,8 triệu đồng/01 chỉ ma túy Ketamine và 500.000đ/01 viên ma tuý tổng hợp dạng “kẹo”. Thoả thuận xong, L gọi điện cho P1 báo giá một chỉ ma túy Ketamine và 01 viên ma tuý tổng hợp dạng “kẹo” là 3.400.000₫. P1 đồng ý, L gửi số tài khoản 8863195611 mở tại ngân hàng B của mình cho P1, để P1 chuyển tiền mua ma túy. Do không có tiền trong tài khoản, nên P1 đến cửa hàng điện thoại Tài T ở tiểu khu C, thị trấn N, huyện N đưa 3.400.000đ tiền mặt cùng phí chuyển khoản nhờ chủ quán là Nguyễn Đức T1, sinh năm 1963, trú tại tiểu khu C, thị trấn N chuyển số tiền 3.400.000đ từ số tài khoản của ông T1 vào số tài khoản của L nhưng không nói mục đích chuyển tiền của mình:

Nhận được tiền, L chuyển số tiền 2.300.000đ vào số tài khoản 0978104061 mở tại ngân hàng M2 do H cung cấp. Khoảng một tiếng sau H gọi điện hẹn L ra đò Chín Cô ở xã N để nhận ma túy. Vì không có phương tiện, nên L đi bộ và xin ngồi xe người đi đường. Khi L đến điểm hẹn, gặp một nam thanh niên khoảng 16 tuổi, không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu, đi qua đò sang đưa cho L một bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long. Lộc kiểm tra thấy bên trong bao thuốc lá có 01 gói ma túy ketamine và 01 viên ma tuý tổng hợp dạng “kẹo” xong, L bỏ vào chiếc tất cầm ở tay phải đi về.

Khoảng 23h00” cùng ngày, L gọi điện cho P1 đến cống M thuộc thôn E, xã N, N nhận ma túy. Do không có xe, nên P1 nhờ anh Mai Văn C, sinh năm 1994 ở thôn H, xã N, huyện N (là người quen ngồi uống nước tại quán K cùng) chở P1 đến cống Mộng G nhưng không nói cho C biết việc mình đi mua ma túy. Khi gần đến cống Mộng Giường, P1 bảo anh C xuống xe, rồi đi gặp L. Nhận được ma tuý, P1 bỏ vào túi quần bên trái, rồi quay lại chỗ anh C và nhờ chở về. Đến thị trấn N, anh C đi về nhà, còn P1 đi đánh bi-a. Về Đỗ Văn L, sau khi bán ma túy cho P1 xong, L đi về nhà nghỉ Hỏi Đào xã N.

Khoảng 06h30” ngày 03/11/2024, P1 từ quán B1 đi đến khu vực gần khách sạn N, thuộc tiểu khu H, thị trấn N, thì bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ gói ma tuý Kentamine, còn viên ma tuý dạng kẹo bị rơi không thấy như đã nêu ở trên.

Ngày 04/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N quyết định trưng cầu giám định số 530/QĐ-ĐCSKTMT trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh T giám định đối với vật chứng của vụ án.

Tại kết luận giám định số 4263/KL-KTHS, ngày 08/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng dạng tinh thể của phong bì ký hiệu “M1 Trần Ngọc P1” niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,277g (không phẩy hai bảy bảy gam) loại: Ketamine.

Ngày 04/11/2025, Cơ quan CSĐT đã truy tìm 01 viên ma tuý tổng hợp dạng “kẹo” nhưng không thu giữ được.

Về nguồn gốc số ma túy Ketamine và 01 viên ma tuý tổng hợp dạng “kẹo”, Đỗ Văn L khai mua của một người tên H ở xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. L chỉ biết người đàn ông tên H khoảng 20 tuổi, người to béo, cao khoảng 1,7m, hai cánh tay có nhiều hình xăm. Ngoài ra, khi L đến điểm hẹn người giao ma tuý là một nam thanh niên khoảng 16 tuổi, người gầy nhỏ, L không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu đem ma túy qua đò Chín Cô sang địa phận xã N giao cho L. Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã phối hợp với công an xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình, xác minh người đàn ông tên H nhưng đến nay chưa có kết quả. Đối với người thanh niên trẻ tuổi (là người trực tiếp giao ma túy cho L), Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã phối hợp với công an xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình, để xác minh. Mặt khác, tại khu vực đò Chín Cô xung quanh không có camera an ninh, không xác định được người thanh niên này là ai.

Đối với Trần Ngọc P1 là người đã mua ma túy nhằm mục đích sử dụng cho nhu cầu bản thân. Khối lượng ma tuý còn lại sau khi bị phát hiện là 0,277g (không phẩy hai bảy bảy gam) loại Ketamine dưới 01g theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và Trần Ngọc P1 chưa có tiền án, tiền sự nên chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo Điều 249 BLHS. Cơ quan CSĐT chuyển tài liệu, hồ sơ đến Công an huyện N ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Ngày 08/01/2025, Công an huyện N đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với P1 mức phạt 1.750.000đ. Trần Ngọc P1 đã nộp phạt xong.

Đồ vật không liên quan đến vụ án, Cơ quan CSĐT đã trả lại cho Trần Ngọc P1 01 (một) chiếc điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Masstel, số Imei 1: 350401561365467, Imei 2: 350401561365475, bên trong gắn 01 sim số 0924.383.267, đã qua sử dụng.

Vật chứng của vụ án được chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nga Sơn để bảo quản, chờ xử lý theo quy định của pháp luật gồm:

  • 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa đựng mẫu vật do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ1, Trần Thị Thúy H1, Nguyễn Đức C1 và các hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh T;
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A73 5G, màu đen, có số Imei 1: 863338050598499, Imei 2: 863338050598481, đã qua sử dụng, bên trong sim số 0383.285.620 và sim số 0928.911.081.

Từ những hành vi trên, Cáo trạng số 02/CT-VKSNS ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Đỗ Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đỗ Văn L từ 08 năm đến 8 năm 06 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/11/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

  • Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ1, Trần Thị Thúy H1, Nguyễn Đức C1 và các hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh T.
  • Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A73 5G, màu đen, có số Imei 1: 863338050598499, Imei 2: 863338050598481, đã qua sử dụng, bên trong sim số 0383.285.620 và sim số 0928.911.081.
  • Truy thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 3.400.000đ của bị cáo do bán ma túy cho anh Trần Ngọc P1 mà có.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, của bị cáo và những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, Điều tra viên cũng như Kiểm sát viên đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố là hợp pháp được chấp nhận để làm cơ sở giải quyết vụ án.

[2] Về tội danh:

Khoảng 23h00” ngày 02/11/2024, tại khu vực cống M thuộc thôn E, xã N, huyện N, Thanh Hóa, Đỗ Văn L đã bán trái phép cho Trần Ngọc P1 một gói ma tuý có tổng khối lượng 0,277g (không phẩy hai bảy bảy gam) loại Ketamine và 01 viên ma tuý tổng hợp dạng kẹo với giá 3.400.000đ. Khi P1 cất dấu số ma tuý loại Ketamine trong người thì bị lực lượng Công an phát hiện lập biên bản vụ việc thu giữ gói ma tuý Ketamine, còn viên ma tuý dạng kẹo P1 đã làm rơi, không rõ ở đâu.

Hành vi nêu trên của Đỗ Văn L đã phạm vào tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Đỗ Văn L phạm tội khi tại Bản án số 38/2020/HSST ngày 28/8/2020 đã xác định “tái phạm nguy hiểm” chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này của L thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó, Đỗ Văn L phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 BLHS như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo Đỗ Văn L là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ về hành vi mua bán chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn xã hội, đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy; đây còn là mối hiểm họa làm suy đồi đạo đức, lối sống, gây nguy hại cho thể chất lẫn tinh thần của con người và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):

- Về nhân thân: Bản thân bị cáo Đỗ Văn L là người có nhân thân xấu.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS sau: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; đây là tình tiết giảm nhẹ THNS được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

[5] Về hình phạt:

Từ những nhận xét trên HĐXX nghĩ cần lên cho bị cáo mức án nghiêm, bị cáo là người có nhân thân xấu, có nhiều tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học sửa chữa lỗi lầm nay lại phạm tội nên cần lên hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, cần cân nhắc đến tình tiết giảm nhẹ nêu trên để quyết định mức hình phạt phù hợp cho bị cáo.

Bị cáo nghề nghiệp tự do, mức thu nhập không ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

[6.1] Về xử lý vật chứng:

  • Toàn bộ bao gói mở niêm phong và số ma túy hoàn lại sau giám định là 0,255g (không phẩy hai năm năm gam) chất bột màu trắng dạng tinh thể - Là vật chứng của vụ án; cần tịch thu tiêu hủy.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A73 5G, màu đen, có số Imei 1: 863338050598499, Imei 2: 863338050598481, đã qua sử dụng, bên trong sim số 0383.285.620 và sim số 0928.911.081; cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

[6.2] Về biện pháp tư pháp: Số tiền 3.400.000đ (ba triệu bốn trăm nghìn đồng) do bị cáo bán ma túy cho anh Trần Ngọc P1, cần truy thu của bị cáo nộp Ngân sách Nhà nước.

[7] Các tình tiết khác có liên quan đến vụ án:

Về nguồn gốc số ma túy Ketamine và 01 viên ma tuý tổng hợp dạng “kẹo”, Đỗ Văn L khai mua của một người tên H ở xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. L chỉ biết người đàn ông tên H khoảng 20 tuổi, người to béo, cao khoảng 1,7m, hai cánh tay có nhiều hình xăm. Ngoài ra, khi L đến điểm hẹn người giao ma tuý là một nam thanh niên khoảng 16 tuổi, người gầy nhỏ, L không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu đem ma túy qua đò Chín Cô sang địa phận xã N giao cho L. Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã phối hợp với công an xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình, xác minh người đàn ông tên H nhưng đến nay chưa có kết quả. Đối với người thanh niên trẻ tuổi (là người trực tiếp giao ma túy cho L), Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã phối hợp với Công an xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình, để xác minh. Mặt khác, tại khu vực đò Chín Cô xung quanh không có camera an ninh, không xác định được người thanh niên này là ai.

Đối với Trần Ngọc P1 là người đã mua ma túy nhằm mục đích sử dụng cho nhu cầu bản thân. Khối lượng ma tuý còn lại sau khi bị phát hiện là 0,277g (không phẩy hai bảy bảy gam) loại Ketamine dưới 01g theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và Trần Ngọc P1 chưa có tiền án, tiền sự nên chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Điều 249 BLHS. Ngày 08/01/2025, Công an huyện N đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với P1 mức phạt 1.750.000đ, là đúng quy định của pháp luật.

Đối với số tài khoản 0978104061 mở tại ngân hàng M2 (ngân hàng Q) là số tài khoản mà H cung cấp cho L, để chuyển tiền mua ma túy vào tối ngày 02/11/2024. Cơ quan CSĐT Công an huyện N điều tra, xác định: Chủ số tài khoản 0978104061 là Sầm Thị M1, sinh năm 2008, ở bản N, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An, nhưng chị M1 hiện không sử dụng số tài khoản ngân hàng trên và cũng không biết ai đang sử dụng số tài khoản ngân hàng trên.

Đối với Mai Văn C, ngày 02/11/2024 có chở P1 đến cống M, nhưng C không biết việc P1 mua ma tuý và không góp tiền mua ma tuý cùng P1 nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với C, là đúng quy định.

[7] Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn L phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn L 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 04/11/2024.
  3. Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
    • Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ bao gói mở niêm phong và số ma túy hoàn lại sau giám định là 0,255g (không phẩy hai năm năm gam) chất bột màu trắng dạng tinh thể được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ1, Trần Thị Thúy H1, Nguyễn Đức C1 và các hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh T.
    • Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A73 5G, màu đen, có số Imei 1: 863338050598499, Imei 2: 863338050598481, đã qua sử dụng, bên trong sim số 0383.285.620 và sim số 0928.911.081.

      (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15/01/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nga Sơn).

    • Truy thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 3.400.000đ (ba triệu bốn trăm nghìn đồng) của bị cáo Đỗ Văn L.
  4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Đỗ Văn L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 BLTTHS: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • VKSND huyện Nga Sơn;
  • Nhà tạm giữ Công an huyện Nga Sơn;
  • Cơ quan CSĐT Công an huyện Nga Sơn;
  • Cơ quan THAHS Công an huyện Nga Sơn;
  • Chi cục THADS huyện Nga Sơn;
  • Bị cáo;
  • Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Thủy

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

TP - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Bình

Dương Thị Thắm

Trịnh Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HSST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 06/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn L bị xử phạt 8 năm 03 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm q khoản 2 Điều 251 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger