Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/KDTM-ST

Ngày: 21-02-2025

V/v tranh chấp: “Nghĩa vụ trả nợ

theo hợp đồng cấp bảo lãnh”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Quang Bảo.
  2. Bà Vương Thị Minh Tân.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền Thương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên toà: Ông Ngô Đức Sang - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 08/2024/TLST-KDTM ngày 28 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng cấp bảo lãnh” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-KDTM ngày 09 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QĐXXST-KDTM ngày 24 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V; Địa chỉ: Số H đường L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần V

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn A, chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm thu hồi nợ.

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Trần Văn H và ông Phan Văn N, chức vụ: Cán bộ xử lý nợ của Ngân hàng thương mại cổ phần V. (Theo Văn bản ủy quyền số 1153/2024/UQ-LCC-KHDNMB2 ngày 06-9-2024).

- Bị đơn: Bà Trần Thị H1, sinh năm 1963. Căn cước công dân số: [...], là chủ hộ kinh doanh; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: số F đường Đ, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Tại phiên toà ông Trần Văn H và bà Trần Thị H1 có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 06-9-2024, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền lại của Ngân hàng thương mại cổ phần V (viết tắt là V1) là ông Trần Văn H trình bày:

Ngày 16-3-2023 V1 chi nhánh N1 đã ký kết với bà Trần Thị H1 chủ hộ kinh doanh hợp đồng cấp bảo lãnh số 6733521-01. Hợp đồng cấp bảo lãnh có nội dung như sau:

Bên được bảo lãnh là bà Trần Thị H1 chủ hộ kinh doanh với ngành nghề đăng ký kinh doanh mua bán thức ăn gia súc và hàng nông sản; địa chỉ: thôn Đ, xã N (nay là phường N), thành phố N, tỉnh Nam Định, bên nhận bảo lãnh là Công ty trách nhiệm hữu hạn C (viết tắt là Công ty C), địa chỉ: Lô B, khu công nghiệp B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai với số tiền bảo lãnh tối đa là 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng).

Nghĩa vụ được bảo lãnh: Bảo lãnh thanh toán theo Hợp đồng mua bán thức ăn chăn nuôi, thuỷ sản, gia cầm và gia súc ký số 242438/HD-011020 ngày 01-10-2020 giữa chủ đại lý là bà Trần Thị H1 và Công ty C. Bên được bảo lãnh là bà Trần Thị H1 đương nhiên nhận nợ vay đối với toàn bộ số tiền mà V1 đã trả thay kể từ thời điểm V1 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Bên được bảo lãnh có trách nhiệm hoàn trả ngay trong ngày cho V1 toàn bộ số tiền mà V1 đã trả nợ thay cho bên được bảo lãnh. Trường hợp bên được bảo lãnh chưa hoàn trả số tiền nhận nợ sẽ được coi là khoản vay bắt buộc của bên được bảo lãnh tại Ngân hàng và Ngân hàng có quyền quyết định thời hạn cho vay bắt buộc, kỳ hạn trả nợ và lãi suất cho khoản vay này. Lãi suất cho vay áp dụng đối với khoản vay của bên được bảo lãnh bằng 150% lãi suất vay thông thường đang áp dụng đối với khoản vay có thời hạn tương ứng theo quy định của V1 tại thời điểm bên được bảo lãnh nhận nợ bắt buộc, lãi suất cho vay thông thường sẽ do V1 quyết định.

Quá trình thực hiện hợp đồng:

Ngày 20-3-2023 V1 đã phát hành thư bảo lãnh thanh toán số TBL: MD2307900WPT gửi Công ty C cam kết bảo lãnh thanh toán thay cho bà Trần Thị H1 với số tiền đảm bảo tối đa là 600.000.000 đồng.

Ngày 17-01-2024 Công ty C có văn bản yêu cầu V1 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo thư Bảo lãnh. Ngày 27-5-2024 V1 đã phê duyệt việc giải ngân nhận nợ bắt buộc cho hộ kinh của bà Trần Thị H1 số tiền 540.545.084 đồng (năm trăm bốn mươi triệu năm trăm bốn mươi lăm nghìn không trăm tám mươi tư đồng), thời hạn vay là 03 tháng, lãi suất 21%/năm, phương thức trả nợ: Gốc trả cuối kỳ; lãi trả hàng tháng. Ngày 28-5-2024 V1 đã giải ngân thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh số tiền 540.545.084 đồng để trả nợ cho Công ty C thay cho bà Trần Thị H1 và bà H1 phải có nghĩa vụ hoàn trả ngay trong ngày cho V1 toàn bộ số tiền mà V1 đã trả nợ thay. Do bà Trần Thị H1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên kể từ ngày 29-5-2024 V1 đã tính lãi suất quá hạn đối với khoản vay của bà Trần Thị H1 bằng 150% lãi suất cho vay thông thường đang áp dụng là 21%/năm.

Ngày 22-01-2025 người đại diện theo uỷ quyền lại của V1 đã có văn bản gửi Tòa án giải trình về việc tính lại lãi suất đối với khoản vay của bà Trần Thị H1 với nội dung trình bày như sau: Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, V1 đã tính ngay lãi suất quá hạn đối với khoản vay của bà Trần Thị H1 bằng 150% lãi suất cho vay thông thường đang áp dụng là 21%/năm trong kỳ hạn là 3 tháng kể từ ngày 29-5-2024 đến hết ngày 30-8-2024 là không đúng vì trong khoảng thời gian này khoản vay của bà H1 chỉ phải chịu mức lãi suất là 21%/năm. Như vậy kể từ ngày 31-8-2024 (hết kỳ hạn 03 tháng) bà H1 không trả nợ V1 mới chuyển toàn bộ số nợ 540.545.084 đồng trên thành khoản vay quá hạn với lãi suất bằng 150% lãi suất cho vay thông thường 21%/năm bằng 31.5%/năm.

Trong quá trình giải quyết vụ án ngày 19-12-2024 bà Trần Thị H1 đã trả cho V1 số tiền nợ gốc là 50.002.068 đồng (năm mươi triệu không trăm linh hai nghìn không trăm sáu mươi tám đồng), ngày 01-01-2025 được trừ thêm 443 đồng (bốn trăm bốn mươi ba đồng) là tiền lãi phát sinh trong tài khoản thanh toán của bà H1 mở tại V1 vào số tiền nợ gốc. Như vậy tính đến hết ngày xét xử sơ thẩm là ngày 21-02-2025 bà Trần Thị H1 còn nợ V1 tổng số tiền nợ gốc, nợ lãi là 598.608.623 đồng, trong đó: Nợ gốc là 490.542.573 đồng; Nợ lãi trong hạn là 29.233.863 đồng; Nợ lãi quá hạn là 78.832.187 đồng.

Nay V1 yêu cầu Toà án giải quyết các vấn đề sau:

  • Buộc bà Trần Thị H1 phải thanh toán cho V1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi tính đến hết ngày xét xử sơ thẩm là ngày 21-02-2025 bà Trần Thị H1 còn nợ V1 tổng số tiền gốc và lãi là 598.608.623 đồng, trong đó: Nợ gốc là 490.542.573 đồng; Nợ lãi trong hạn là 29.233.863 đồng; Nợ lãi quá hạn là 78.832.187 đồng.
  • Buộc bà Trần Thị H1 phải trả lãi phát sinh từ ngày 22-02-2025 theo thoả thuận tại hợp đồng cấp bảo lãnh số 6733521-01 ngày 16-03-2023 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.

2. Tại bản tự khai ngày 27-11-2024, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn là bà Trần Thị H1 trình bày:

Bà là chủ hộ kinh doanh mua bán thức ăn chăn nuôi thuỷ sản, gia súc, gia cầm và làm đại lý cho Công ty C nhiều năm nay. Ngày 16-3-2023 giữa là đại diện chủ hộ kinh doanh Trần Thị H1 và V1 có ký kết hợp đồng cấp bảo lãnh số 6733521-01 với nội dung: Bên được bảo lãnh là bà Trần Thị H1, chủ hộ kinh doanh thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm, địa chỉ: thôn Đ, xã N (nay là phường N), thành phố N, tỉnh Nam Định; bên nhận bảo lãnh là Công ty TNHH C, địa chỉ: Lô B, khu công nghiệp B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai với số tiền bảo lãnh tối đa là 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng). Nghĩa vụ được bảo lãnh: Bảo lãnh thanh toán theo Hợp đồng mua bán thức ăn chăn nuôi, thuỷ sản, gia cầm và gia súc ký ngày 01-10-2020 giữa bà và Công ty C. Hộ kinh doanh của bà là bên được bảo lãnh phải nhận nợ đối với toàn bộ số tiền mà V1 trả thay kể từ thời điểm V1 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh và có trách nhiệm hoàn trả ngay trong ngày cho bên V1 toàn bộ số tiền mà V1 đã trả nợ thay. Trường hợp bên được bảo lãnh chưa hoàn trả số tiền nhận nợ sẽ được coi là khoản vay bắt buộc của bên được bảo lãnh tại Ngân hàng và Ngân hàng có quyền quyết định thời hạn cho vay bắt buộc, kỳ hạn trả nợ và lãi suất cho khoản vay này. Lãi suất cho vay áp dụng đối với khoản vay của bên được bảo lãnh bằng 150% lãi suất vay thông thường đang áp dụng đối với khoản vay có thời hạn tương ứng theo quy định của V1 tại thời điểm bên được bảo lãnh nhận nợ bắt buộc, lãi suất cho vay thông thường sẽ do V1 quyết định.

Ngày 27-5-2024 V1 đã phê duyệt việc giải ngân nhận nợ bắt buộc cho hộ kinh của bà số tiền 540.545.084 đồng (năm trăm bốn mươi triệu năm trăm bốn mươi lăm nghìn không trăm tám mươi tư đồng) với thời hạn vay là 03 tháng, lãi suất 21%/năm, không có tài sản đảm bảo, phương thức trả nợ: Gốc trả cuối kỳ; lãi trả hàng tháng. Ngày 28-5-2024 V1 đã thay cho hộ kinh doanh của bà thanh toán trả nợ cho Công ty C số tiền 540.545.084 đồng. Do điều kiện khó khăn, dịch bệnh làm cho gia súc, gia cầm chết nhiều trong các hộ chăn nuôi, bản thân bà kinh doanh cũng phải bán chịu thức ăn chăn nuôi cho các hộ dân, khi dịch bệnh xảy ra không thu được tiền nên khó khăn trong việc trả nợ cho Ngân hàng, từ khi V1 trả nợ thay cho bà thì đến ngày 19-12-2024 bà mới trả được số tiền nợ gốc là 50.002.068 đồng (năm mươi triệu không trăm linh hai nghìn không trăm sáu mươi tám đồng) và ngày 01-01-2025 trừ thêm 443 đồng (bốn trăm bốn mươi ba đồng) là tiền lãi phát sinh trong tài khoản thanh toán của bà mở tại V1 vào số tiền nợ gốc.

Việc Ngân hàng trình bày về tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến hết ngày 21-02-2025 bà còn nợ là: 598.608.623 đồng, trong đó: Nợ gốc là 490.542.573 đồng; Nợ lãi trong hạn là 29.233.863 đồng; Nợ lãi quá hạn là 78.832.187 đồng bà không có ý kiến gì. Quan điểm của bà như sau:

Về số tiền nợ gốc: Bà đề nghị V1 tạo điều kiện cho bà trả nợ dần, mỗi năm bà sẽ trả cho V1 số tiền gốc là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng)/năm vào ngày 25-12 (dương lịch) hàng năm cho đến khi trả hết số nợ gốc, lần trả nợ thứ nhất vào ngày 25-12-2025.

Về số tiền lãi: Vì tuổi cao, hiện nay bà không làm ăn kinh doanh gì nữa nên bà đề nghị V1 cho bà được xin miễn khoản tiền lãi cho đến khi bà trả hết số tiền nợ gốc.

3. Tại văn bản đề ngày 02-12-2024 của Công ty C có nội dung trình bày như sau:

Ngày 01-10-2020 Công ty C có ký kết hợp đồng mua bán thức ăn chăn nuôi thuỷ sản, gia cầm và gia súc số 242438/HD-011020 với hộ kinh doanh của bà Trần Thị H1. Căn cứ theo các điều khoản Hợp đồng trong trường hợp khách hàng lựa chọn mua hàng thanh toán theo hình thức trả chậm quy định tại Điều 4.3 của Hợp đồng thì khách hàng cần phải cung cấp cho Công ty C thư bảo lãnh thanh toán quy định tại Điều 5.1 (ii) của Hợp đồng. Công ty C đã nhận được thư bảo lãnh thanh toán số MD2307900WPT phát hành ngày 20-3-2023 của V1 cho Hợp đồng với số tiền bảo lãnh là 600.000.000 đồng. Vì khách hàng là bà Trần Thị H1 đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng nên ngày 17-01-2024 Công ty C đã gửi hồ sơ đề nghị V1 thực hiện nghĩa vụ Bảo lãnh thanh toán các khoản nợ còn tồn đọng và ngày 29-5-2024 Công ty C đã nhận được số tiền bảo lãnh thanh toán nợ cho bà H1 từ V1. Công ty C đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và giải quyết vắng mặt Công ty trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

4. Kết quả thu thập chứng cứ của Toà án: Tại biên bản thu thập chứng cứ ngày 02-01-2025 về nơi cư trú của bà Trần Thị H1, tổ dân phố Đ, phường N, thành phố N cung cấp: bà Trần Thị H1 sinh năm 1963 hiện nay đang cư trú tại số F đường Đ, phường N thuộc tổ dân phố Đ, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định.

5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến:

Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng nhiệm vụ quyền hạn theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 147, Điều 116, Điều 117, Điều 385, Điều 398, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Căn cứ vào Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Căn cứ vào Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V.

Buộc bà Trần Thị H1 phải trả cho V1 theo hợp đồng cấp bảo lãnh số 6733521-01 ngày 16-3-2023 tổng số tiền là: 598.608.623 đồng, trong đó: Nợ gốc là 490.542.573 đồng; Nợ lãi trong hạn là 29.233.863 đồng; Nợ lãi quá hạn là 78.832.187 đồng.

Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bà Trần Thị H1 phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết.

V1 khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị H1 là chủ hộ kinh doanh Trần Thị H1 trả toàn bộ số nợ gốc, nợ lãi theo hợp đồng cấp bảo lãnh số 6733521-01 ngày 16-3-2023. Hộ kinh doanh Trần Thị H1 có địa chỉ kinh doanh tại: thôn Đ, xã N (nay là phường N), thành phố N, tỉnh Nam Định nên căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp kinh doanh thương mại về nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng cấp bảo lãnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định.

[2] Về người tham gia tố tụng:

Tại thông báo về việc thụ lý vụ án số 08/TB-TLVA ngày 28-10-2024, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định đã đưa Công ty C tham gia với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án theo lời trình bày của các đương sự thì V1 đã giải ngân thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh số tiền 540.545.084 đồng để trả nợ cho Công ty C thay cho bà Trần Thị H1. Tại văn bản đề ngày 02-12-2024 của Công ty C gửi Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, Công ty C cũng xác nhận ngày 29-5-2024 đã nhận được từ V1 số tiền bảo lãnh thanh toán nợ thay cho bà H1 và không có ý kiến gì. Căn cứ vào khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử xác định Công ty C không còn là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

[3] Về yêu cầu khởi kiện:

3.1 Về hình thức và nội dung hợp đồng:

Ngày 16-3-2023 V1 chi nhánh N1 đã ký kết hợp đồng cấp bảo lãnh số 6733521-01 với bà Trần Thị H1, cụ thể: Bên được bảo lãnh là bà Trần Thị H1 chủ hộ kinh doanh với ngành nghề đăng ký kinh doanh mua bán thức ăn gia súc và hàng nông sản, bên nhận bảo lãnh là Công ty C,với số tiền bảo lãnh tối đa là 600.000.000 (sáu trăm triệu đồng) đồng. Nghĩa vụ được bảo lãnh: Bảo lãnh thanh toán theo Hợp đồng mua bán thức ăn chăn nuôi, thuỷ sản, gia cầm và gia súc ký số 242438/HD-011020 ngày 01-10-2020 giữa chủ đại lý là bà Trần Thị H1 và Công ty C. Bên được bảo lãnh là bà Trần Thị H1 đương nhiên nhận nợ vay đối với toàn bộ số tiền mà V1 đã trả thay kể từ thời điểm V1 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Bên được bảo lãnh có trách nhiệm hoàn trả ngay trong ngày cho V1 toàn bộ số tiền mà V1 đã trả nợ thay cho bên được bảo lãnh. Trường hợp bên được bảo lãnh chưa hoàn trả, số tiền nhận nợ sẽ được coi là khoản vay bắt buộc của bên được bảo lãnh tại Ngân hàng và Ngân hàng có quyền quyết định thời hạn cho vay bắt buộc, kỳ hạn trả nợ và lãi suất cho khoản vay này. Lãi suất cho vay áp dụng đối với khoản vay của bên được bảo lãnh bằng 150% lãi suất vay thông thường đang áp dụng đối với khoản vay có thời hạn tương ứng theo quy định của bên Ngân hàng tại thời điểm bên được bảo lãnh nhận nợ bắt buộc, lãi suất cho vay thông thường sẽ do V1 quyết định.

Bà Trần Thị H1 được Phòng đăng ký kinh doanh Ủy ban nhân dân thành phố N cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nên là chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, các bên giao dịch dân sự là hoàn toàn tự nguyện. Hợp đồng cấp bảo lãnh được lập thành văn bản, bà Trần Thị H1 và người đại diện hợp pháp của V1 ký tên đóng dấu. Nội dung của hợp đồng cấp bảo lãnh không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, các thoả thuận về lãi suất, lãi trong hạn, lãi quá hạn là phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Do đó căn cứ vào Điều 116, Điều 117, Điều 385, Điều 398, Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì hợp đồng là hợp pháp, có giá trị thực hiện.

3.2 Quá trình thực hiện hợp đồng:

Ngày 20-3-2023 V1 đã phát hành thư bảo lãnh thanh toán số TBL: MD2307900WPT gửi Công ty C cam kết bảo lãnh thanh toán theo Hợp đồng mua bán thức ăn chăn nuôi, thuỷ sản, gia cầm và gia súc ký số 242438/HD-011020 ngày 01-10-2020 thay cho bà Trần Thị H1 với số tiền đảm bảo tối đa là 600.000.000 đồng.

Ngày 17-01-2024 Công ty C có văn bản yêu cầu V1 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo thư Bảo lãnh. Ngày 27-5-2024 V1 đã phê duyệt việc giải ngân cho bà Trần Thị H1 số tiền 540.545.084 đồng (năm trăm bốn mươi triệu năm trăm bốn mươi lăm nghìn không trăm tám mươi tư đồng), thời hạn là 03 tháng, lãi suất 21%/năm, không có tài sản đảm bảo, phương thức trả nợ: Gốc trả cuối kỳ; lãi trả hàng tháng. Ngày 28-5-2024 V1 đã giải ngân thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh số tiền 540.545.084 đồng để trả nợ cho Công ty TNHH C thay cho bà Trần Thị H1.

Kể từ ngày V1 giải ngân thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ Công ty C thay cho bà Trần Thị H1, bà H1 đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho V1, hết thời hạn vay 03 tháng nên ngày 31-8-2024 V1 đã chuyển toàn bộ số nợ 540.545.084 đồng, thành khoản vay quá hạn với lãi suất 150% lãi suất cho vay thông thường 21%/năm đang áp dụng đối với khoản vay có thời hạn. Trong quá trình giải quyết vụ án ngày 19-12-2024 bà Trần Thị H1 mới trả được cho V1 số tiền nợ gốc là 50.002.068 đồng (năm mươi triệu không trăm linh hai nghìn không trăm sáu mươi tám đồng), ngày 01-01-2025 được trừ thêm 443 đồng (bốn trăm bốn mươi ba đồng) là tiền lãi phát sinh trong tài khoản thanh toán của bà H1 mở tại V1 vào số tiền nợ gốc. Việc bà H1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho V1 theo thoả thuận đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Tính đến hết ngày xét xử sơ thẩm là ngày 21-02-2025 bà Trần Thị H1 còn nợ V1 tổng số tiền gốc và lãi là 598.608.623 đồng, trong đó: Nợ gốc là 490.542.573 đồng; Nợ lãi trong hạn là 29.233.863 đồng; Nợ lãi quá hạn là 78.832.187 đồng Hội đồng xét xử buộc bà Trần Thị H1 phải thanh toán cho V1 số tiền nợ gốc và lãi trên.

3.3 Về nghĩa vụ chậm thi hành án:

Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày thi hành án xong, hàng tháng bà Trần Thị H1 phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền dư nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cấp bảo lãnh số 6733521-01 ngày 16-3-2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ của V1. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

[4] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V được chấp nhận nên căn cứ khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí bà Trần Thị H1 phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm tương ứng với số tiền nợ gốc và lãi phải trả. Cụ thể là: 20.000.000 đồng + (598.608.623 đồng – 400.000.000 đồng) x 4% = 27.944.000 đồng (đã làm tròn).

Trả lại Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 116, Điều 117, Điều 385, Điều 398, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ vào Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ vào Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V2.

Buộc bà Trần Thị H1 phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V theo hợp đồng cấp bảo lãnh số 6733521-01 ngày 16-3-2023 tổng số tiền gốc và lãi tính đến hết ngày 21-02-2025 là: 598.608.623 đồng (năm trăm chín mươi tám triệu sáu trăm linh tám nghìn sáu trăm hai mươi ba đồng), trong đó: Nợ gốc là 490.542.573 đồng (bốn trăm chín mươi triệu năm trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm bảy mươi ba đồng); Nợ lãi trong hạn là 29.233.863 đồng (hai mươi chín triệu hai trăm ba mươi ba nghìn tám trăm sáu mươi ba đồng); Nợ lãi quá hạn là 78.832.187 đồng (bảy mươi tám triệu tám trăm ba mươi hai nghìn một trăm tám mươi bảy đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày thi hành án xong, hàng tháng bà Trần Thị H1 phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền dư nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cấp bảo lãnh cho đến khi thanh toán xong khoản nợ đối với Ngân hàng V.

Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bà Trần Thị H1 phải chịu 27.944.000 đồng (hai mươi bảy triệu chín trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).

Trả lại Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền tạm ứng án phí 13.537.000 đồng (mười ba triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002395 ngày 28-10-2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định.

3. Quyền kháng cáo: Ngân hàng thương mại cổ phần V và bà Trần Thị H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND thành phố Nam Định;
  • - Chi cục THADS thành phố Nam Định;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Mạnh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/KDTM-ST ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng cấp bảo lãnh

  • Số bản án: 03/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng cấp bảo lãnh
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng - Trần Thị Hạt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger