Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/DS-ST

Ngày: 21/02/2025

V/v tranh chấp đòi lại quyền sử

dụng đất, tài sản gắn liền với đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Thanh Quyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trưởng

Ông Lê Văn Qui

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Diện – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17 tháng 01 năm 2025, ngày 17 tháng 02 năm 2025 và ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2024/TLST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 01 năm 2025, và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/2025/QĐST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Võ Văn Đ, sinh năm 1973; Địa chỉ: khu V, phường V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
  2. Bị đơn: Bà Trần Thị D, sinh năm: 1941; Địa chỉ: khu V, phường V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1984; Địa chỉ: khu V, phường V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang – Là người đại diện theo ủy quyền, Văn bản ủy quyền ngày 26/9/2024 (có mặt).

  1. Người làm chứng: Ông Võ Văn T1, sinh năm 1936; Địa chỉ: khu V, phường V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Trong đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Võ Văn Đ trình bày:

Phần đất tranh chấp tọa lạc tại khu vực B, phường V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Ngày 25/3/1996, ông Võ Văn Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000062 do Ủy ban nhân dân (UBND) huyện L cấp. Ông Đ sử dụng đến ngày 03/8/2017 thì cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS00275 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 03/8/2017 thửa số 833, tờ bản đồ số 06, diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 1625,0m². Thửa đất có 01 cạnh ở hướng đông giáp với đất của bà Trần Thị D cạnh còn lại cặp lộ chiều khoảng dài 12 mét không nằm liền kề với đất của bà D nhưng nay bà D lấn chiếm phần đất cặp lộ. Vì vậy, ông Võ Văn Đ yêu cầu xem xét buộc bà Trần Thị D trả lại cho ông Võ Văn Đ phần đất theo đo đạc thực tế là 56,2m². Ông Võ Văn Đ thống nhất bồi thường cho bà Trần Thị Duyên S tiền 2.000.000 đồng tiền thiệt hại về tài sản là cây trồng do ông Đ đã chặt, phát hoang.

Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn bà Trần Thị D (có người đại diện theo ủy quyền bà Trần Thị T) trình bày: Vào năm 1997, khi bà Phan Thị N là mẹ ruột của ông Đ chết có chôn cất tại phần đất giáp ranh với đất của bà D, đến năm 1999, Võ Văn H chết thì chôn cất chung với vợ, trước phần mộ của vợ chồng ông Võ Văn H là một con mương giáp ranh với phần đất của bà D vì không có đường qua nhà mồ nên ông Võ Văn T1 (tức anh ruột của ông Võ Văn Đ) có gặp gia đình bà D để xin bắt cầu đi nhờ trên phần đất của gia đình bà D để có đường chuyển vật tư cất nhà mồ và có đường để đi qua nhà mồ của cha mẹ ông T1, ông Đ (Tức mộ của vợ chồng ông Võ Văn H). Phần đất ông Đ tranh chấp với bà D có nguồn gốc đất của bà D sử dụng từ Kênh chạy ra giáp đất ông Đ, tức giáp mương ranh nhưng khi Nhà nước làm lộ thì chia cắt phần đất nên phần đất còn lại của bà D giáp lề lộ. Từ trước đến nay, phần đất ông Đ yêu cầu tranh chấp do bà D sử dụng, trồng cây. Sự việc chỉ phát sinh tranh chấp vào khoảng tháng 02/2024 khi ông Đ có nhu cầu cấp đổi lại giấy mới phát hiện phần đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đ. Quá trình sử dụng đất, bà D có trồng một số loại cây trồng, ông Đ đã chặt phá cây trồng. Bà D thống nhất thỏa thuận việc ông Đ có trách nhiệm bồi thường cho bà Duyên số tiêng 2.000.000 đồng tiền thiệt hại tài sản về cây trồng mà ông Đ đã chặt phá. Đối với phần đất, bà D cũng thống nhất sẽ để lại cho ông Đ sử dụng nhưng ông Đ phải có trách nhiệm trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho bà D.

Người làm chứng ông Võ Văn T1 trình bày: Việc tranh chấp giữa ông Đ và bà D thì ông T1 không có ý kiến gì, về nguồn gốc đất thì ông T1 không rõ như thế nào, tuy nhiên lúc xây dựng cây cầu qua mộ thì ông T1 có hỏi nhờ bà D bắt ngang lộ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm:

3

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn Đ. Buộc bị đơn bà Trần Thị D có nghĩa vụ giao lại phần đất có diện tích 56,2m². Ông Võ Văn Đ có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Duyên S tiền 10.311.250 đồng. Ông Võ Văn Đ có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Duyên S tiền 161.000 đồng giá trị cây trồng. Ghi nhận sự thỏa thuận của ông Võ Văn Đ và bà Trần Thị D về việc ông Võ Văn Đ có nghĩa vụ bồi thường cho bà Trần Thị Duyên S tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) thiệt hại về tài sản. Ông Võ Văn Đ được tiếp tục quản lý, sử dụng công trình, cây trồng trên phần đất tranh chấp. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật, bị đơn được miễn án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại Tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu đòi lại phần đất, có phát sinh tài sản gắn liền với đất đồng thời bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn thị xã L. Do đó, đây là “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 203 Luật đất đai năm 2013, Luật Đất đai năm 2024.

[1.2] Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn thống nhất với kết quả đo đạc theo Mảnh trích đo địa chính số 55/CHK ngày 26/6/2024 của Công ty cổ phần Đ1 và thiết kế xây dựng Đ1 cũng như kết quả định giá tài sản của Công ty cổ phần T2. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào kết quả đo đạc cũng như định giá đã được các đương sự thống nhất làm cơ sở giải quyết vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 56,2m². Nguyên đơn cho rằng, phần đất nêu trên thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Nhà nước đã cấp cho nguyên đơn; bị đơn có ý kiến phản bác cho rằng phần đất tranh chấp 56,2m² là đất của bị đơn. Qua kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện phần đất tranh chấp nằm trong thửa 833 do UBND huyện L cấp cho ông Võ Văn Đ vào năm 1996, sau đó ông Đ được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp đổi vào năm 2017. Điều này cũng phù hợp với Công văn số 3697/UBND ngày 16/9/2024 của UBND thị xã L và Công văn số 2847/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 09/10/2024 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H xác định việc cấp, cấp đổi cho ông Võ Văn Đ là đúng trình tự, thủ tục.

4

Căn cứ vào khoản 1 Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015 “1. Chủ sở hữu,……….có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật”.

Tuy nhiên, xét quá trình sử dụng đất, các bên có sự nhầm lẫn trong việc xác định vị trí thửa đất dẫn đến sử dụng đất chưa đúng, bà D là người trực tiếp sử dụng đất công khai, liên tục, không bị ngăn cản; ông Võ Văn Đ là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1997 nhưng không thực hiện các phương thức bảo vệ quyền dân sự theo Điều 11 Bộ luật Dân sự năm 2015, sự việc chỉ xảy ra tranh chấp từ năm 2024. Điều này phù hợp với lời khai của người làm chứng ông Võ Văn T1 xác định khi làm mộ cha mẹ có hỏi nhờ đường bắt cầu qua mộ. Đồng thời, theo xác minh của địa phương khi Nhà nước làm lộ thì bà D có làm nền hạ.

Do đó, bà D có công sức trong việc giữ gìn phần đất. Bà D cũng có ý kiến thống nhất để lại cho ông Đ sử dụng phần đất đồng thời trả lại giá trị cho bà D. Áp dụng lẽ công bằng, Hội đồng xét xử quyết định cho bà D được 50% giá trị phần tài sản tranh chấp, công sức trong việc giữ gìn phần đất. Cụ thể, giá trị phần đất theo kết luận định giá là 20.622.500 đồng. Ông Đ có nghĩa vụ trả cho bà D 20.622.500 x 50% = 10.311.250 đồng.

[2.2] Về tài sản trên đất: Theo kết quả xem xét thẩm định thì hiện nay có 01 phần cầu bắt qua nhà mộ của gia đình ông Đ. Về cây trồng có 01 cây đu đủ loại A, 01 cây bông trang do bà D trồng. Đối với tài sản trên đất Hội đồng xét xử thống nhất để cho ông Đ tiếp tục sử dụng, ông Đ có nghĩa vụ trả cho bà D giá trị các cây trồng là 161.000 đồng.

[2.3] Đối với việc tại phiên tòa bà D có ý kiến yêu cầu ông Đ bồi thường 2.000.000 đồng thiệt hại cây trồng do ông Đ đã chặt phá, ông Đ cũng có ý kiến thống nhất bồi thường số tiền này nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự về việc ông Võ Văn Đ có nghĩa vụ bồi thường cho bà Trần Thị Duyên S tiền 2.000.000 đồng thiệt hại về tài sản.

[3] Xét quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, chi phí trích lục hồ sơ tổng cộng 12.610.000 đồng. Nguyên đơn thống nhất chịu toàn bộ, nguyên đơn đã nộp xong.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu án phí trên số tiền có nghĩa vụ đối với bị đơn; bị đơn phải chịu án phí không có giá ngạch nhưng được miễn án phí do thuộc đối tượng người cao tuổi theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

5

Căn cứ vào Điều 5, khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; Điều 45; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 6, Điều 99, Điều 100, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Luật Đất đai năm 2024; Điều 12, khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn Đ.
  2. Buộc bị đơn bà Trần Thị D có nghĩa vụ giao lại phần đất có diện tích 56,2m² theo Mảnh trích đo địa chính số 55/CHK ngày 26/6/2024 của Công ty cổ phần Đ1 cho ông Võ Văn Đ.

    (Có Mảnh trích đo địa chính số 55/CHK ngày 26/6/2024 của Công ty cổ phần Đ1 kèm theo)

  3. Ông Võ Văn Đ có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Duyên S tiền 10.311.250 đồng (Mười triệu, ba trăm mười một nghìn, hai trăm năm mươi đồng).

    Ông Võ Văn Đ có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Duyên S tiền 161.000 đồng (Một trăm sáu mươi mốt nghìn đồng) giá trị cây trồng.

    Ghi nhận sự thỏa thuận của ông Võ Văn Đ và bà Trần Thị D về việc ông Võ Văn Đ có nghĩa vụ bồi thường cho bà Trần Thị Duyên S tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) thiệt hại về tài sản.

    Ông Võ Văn Đ được tiếp tục quản lý, sử dụng công trình, cây trồng trên phần đất tranh chấp.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, chi phí trích lục hồ sơ tổng cộng số tiền 12.610.000 đồng (Mười hai triệu, sáu trăm mười nghìn đồng). Nguyên đơn ông Võ Văn Đ thống nhất chịu toàn bộ, nguyên đơn ông Võ Văn Đ đã nộp xong.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Võ Văn Đ phải nộp 523.612 đồng (Năm trăm hai mươi ba nghìn, sáu trăm mười hai đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0007705 ngày 27 tháng 02 năm 2024 và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0004940 ngày 28 tháng 8 năm 2024. Các biên lai đều của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Nguyên đơn ông

6

Võ Văn Đ được nhận lại số tiền 76.388 đồng (Bảy mươi sáu nghìn, ba trăm tám mươi tám đồng).

Bị đơn bà Trần Thị D được miễn án phí do thuộc đối tượng người cao tuổi.

  1. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  2. Nguyên đơn ông Võ Văn Đ, bị đơn bà Trần Thị D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/02/2025)./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - Các đương sự;
  • - VKSND thị xã Long Mỹ;
  • - Chi cục THADS TX Long Mỹ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Châu Thanh Quyền

7

Châu Thanh Quyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/DS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất

  • Số bản án: 03/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger