|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 21/02/2025
V/v “Ly hôn"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Bảo Huyền T.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị N.
Ông Trịnh Hồng H.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yên T. - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh T. - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 404/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2025 về việc "Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 404/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 404/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23/01/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh T, sinh năm: 1977; nơi cư trú: Số K đường N, tổ A, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng (có mặt).
- Bị đơn: Ông Dương C, sinh năm: 1973; nơi cư trú: Số K đường N, tổ A, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn – bà Trần Thị Thanh T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh T kết hôn với ông Dương C vào năm 1997 có đăng ký kết hôn tại UBND phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình và quan điểm sống của ông bà không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, to tiếng. Nay bà T thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông C.
- Về con chung: Bà Trần Thị Thanh T xác định bà và ông C 02 (hai) con chung tên: Dương Ngọc Phương T1, sinh năm 1999 và Dương Ngọc Phương T2, sinh năm 2002. Hai con chung đã trưởng thành nên không đề cập đến.
- Về tài sản chung: Bà Trần Thị Thanh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà Trần Thị Thanh T xác định không có.
* Tòa án đã nhiều lần gửi văn bản và triệu tập ông C nhưng ông C không gửi văn bản trình bày ý kiến cũng như không có mặt theo giấy triệu tập. Vì vậy, ông C không có lời khai trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm: Việc Tòa án nhân dân quận Thanh Khê thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền; việc tuân theo pháp luật tố tụng đã xác định Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn vẫn vắng mặt lần hai đã không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; xử cho bà Trần Thị Thanh T được ly hôn với ông Dương C. Hai con chung là Dương Ngọc Phương T1, sinh năm 1999 và Dương Ngọc Phương T2, sinh năm 2002 đã trưởng thành nên không đề cập đến. Tài sản chung không đề cập giải quyết và nợ chung không có. Án phí HNGĐ-ST bà Trần Thị Thanh T phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thủ tục tố tụng:
[1] Đây là vụ án hôn nhân gia đình tranh chấp về “Ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn là ông Dương C có địa chỉ cư trú tại số K đường N, tổ A, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê theo khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, Toà án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai đối với bị đơn ông Dương C nhưng ông C vẫn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông C.
* Về nội dung vụ án:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh T và ông Dương C đăng ký kết hôn vào ngày 12 tháng 12 năm 1997 tại Ủy ban nhân dân phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân tự nguyện như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông C là hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn và xin ly hôn với ông Dương C. Bà T cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, cách suy nghĩ nên vợ chồng thường xuyên cãi vã dẫn đến xô xát, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc.
Hội đồng xét xử xét yêu cầu của đương sự thì thấy: Mối quan hệ hôn nhân chỉ thực sự tồn tại khi cả hai vợ chồng cùng yêu thương, cùng nhau xây đắp gia đình, cùng nhau có trách nhiệm, chăm sóc cũng như tạo mọi điều kiện cho nhau trong cuộc sống. Trong quá trình chung sống, bà T và ông C có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có sự quan tâm cần thiết. Năm 2024, bà T và ông C sống ly thân nhau, vợ chồng không chung sống với nhau nên thiếu sự yêu thương, chăm sóc, tình cảm phai nhạt, thông qua những lần nói chuyện, trao đổi thể hiện tính cách càng không hòa hợp nên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Mặc dù kết quả xác minh tại địa phương không xác định được ông bà có mâu thuẫn hay không, tuy nhiên, trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tổ chức hòa giải tạo điều kiện để vợ chồng ông bà trở về đoàn tụ, nhưng ông C đều vắng mặt, điều này chứng tỏ ông C không có thiện chí đoàn tụ gia đình. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vẫn kiên quyết yêu cầu Tòa án cho ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[2] Về quan hệ con chung: Các con chung: Dương Ngọc Phương T1, sinh năm 1999 và Dương Ngọc Phương T2, sinh năm 2002 đã trưởng thành nên không đề cập đến .
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Thanh T không yêu cầu giải quyết và nợ chung bà T xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Trường hợp sau này có tranh chấp thì khởi kiện bằng vụ án dân sự khác để giải quyết.
[4] Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ nguyên đơn phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh T đối với ông Dương C về vụ việc "Ly hôn".
Tuyên xử:
- Cho bà Trần Thị Thanh T được ly hôn ông Dương C.
- - Về con chung: Các con chung: Dương Ngọc Phương T1, sinh năm 1999 và Dương Ngọc Phương T2, sinh năm 2002 đã trưởng thành nên không đề cập đến.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) bà Trần Thị Thanh T phải chịu được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0005883 ngày 22 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Bà Trần Thị Thanh T đã nộp đủ tiền án phí.
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký tên) Lê Bảo Huyền T. |
Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG về ly hôn
- Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa bà Trần Thị Thanh T. và ông Dương C.
