Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦU KÈ

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 21 - 02 - 2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chí Điền.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Ngô Thanh Xuân.
  2. Bà Trần Thị Thúy Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thân - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 208/2024/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị M, sinh năm 1980 (vắng có đơn).

Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: Anh Lê Hùng E, sinh năm 1975 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện (BL 02) và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Trần Thị M trình bày: Chị và anh Lê Hùng E chung sống vào năm 2000 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C vào năm 2007. Quá trình chung sống có 02 con chung tên Lê Thị Bích N, sinh năm 2002 đã trưởng thành và Lê Thị Bích T sinh ngày 15/12/2007 hiện đang do anh Lê Hùng E nuôi dưỡng. Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến việc ly hôn là do anh Lê Hùng E có người phụ nữ khác, chơi cờ bạc đá gà không quan tâm chăm sóc gia đình, không lo chí thú làm ăn, chị có khuyên can nhiều lần nhưng anh Hùng E vẫn không sửa đổi. Vì vậy hai vợ chồng thường xuyên cự cải, chung sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên hai đã không còn chung sống với nhau từ ngày 25/11/2010 cho đến nay. Nay xét thấy không còn tình cảm nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Hùng E.

Về con chung: Con chung Lê Thị Bích N, sinh năm 2002 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn con chung Lê Thị Bích T sinh ngày 15/12/2007 chị thống nhất giao cho anh Lê Hùng E nuôi dưỡng mà chị không cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: Không tranh chấp với anh Lê Hùng E.

Về nợ chung: Không tranh chấp với anh Lê Hùng E.

Anh Lê Hùng E vắng mặt và không có lời khai cung cấp cho Tòa án.

Cháu Lê Thị Bích T vắng mặt nhưng có lời khai: Cháu là con chung của cha là Lê Hùng E và mẹ là Trần Thị M. Nay cha mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng sống với cha là Lê Hùng E.

Tại phiên tòa:

Tất cả các đương sự vắng mặt, không ai cung cấp tài liệu, chứng cứ nào mới và cũng không yêu cầu Tòa án triệu tập thêm ai tham gia tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè phát biểu quan điểm:

Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành của người tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và thông qua việc kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị M. Cho chị Trần Thị M được ly hôn với anh Lê Hùng E. Về con chung: Đối với con chung Lê Thị Bích N, sinh năm 2002 đã trưởng thành nên đề nghị không xem xét, giải quyết. Giao con chung Lê Thị Bích T sinh ngày 15/12/2007 cho anh Lê Hùng E nuôi dưỡng mà chị Trần Thị M không cấp dưỡng nuôi con. Về chia tài sản chung, chị Trần Thị M không tranh chấp nên đề nghị không xem xét giải quyết. Về nợ chung, chị Trần Thị M không tranh chấp nên đề nghị không xem xét giải quyết. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý về án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện, lời trình bày của đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định quan hệ pháp luật vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1, Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn là anh Lê Hùng E có địa chỉ cư trú tại xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh Lê Hùng E nhận (BL 21). Các văn bản tố tụng tiếp theo Tòa án tống đạt trực tiếp cho bà Thạch Thị P là mẹ ruột của anh Lê Hùng E nhận thay và bà P đã trực tiếp giao và thông báo lại cho anh Hùng E biết. Tuy nhiên anh Lê Hùng E vẫn vắng mặt tại phiên tòa và chị Trần Thị M vắng có đơn nên căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị M và anh Hùng E.

[3] Về nội dung:

Xét thấy, anh Lê Hùng E và chị Trần Thị M kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào năm 2007 (BL 06) nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Về nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng theo chị Trần Thị M là do vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng ý kiến, không hòa hợp được nên chung sống không hạnh phúc, hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2010 cho đến nay. Tòa án tiến hành ghi lời khai bà Thạch Thị P là mẹ ruột của anh Lê Hùng E thì được biết vợ chồng chị Trần Thị M và anh Em sống chung không còn hạnh phúc do thường xuyên cự cải, đã không còn chung sống với nhau khoảng 14 năm nay. Ý kiến của anh Lê Hùng E nói lại với bà là đồng ý ly hôn với chị Trần Thị M nhưng do bận công việc nên anh Hùng E không lên Tòa án được (BL 37).

Tòa án đã tiến hành mời chị Trần Thị M và anh Lê Hùng E nhiều lần đến Tòa án để hòa giải nhằm hàn gắn cho hai vợ chồng nhưng anh Hùng E vẫn vắng mặt không rõ lý do và cũng không có lời khai cung cấp cho Tòa án. Vấn đề này thấy rằng anh Lê Hùng E đã bỏ mặc hôn nhân của mình, đồng thời tình trạng hôn nhân giữa chị M và anh Hùng E đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hội đồng xét xử sẽ xem xét việc yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị M đối với anh Lê Hùng E.

Về con chung: Chị Trần Thị M và bà Thạch Thị P là mẹ của anh Lê Hùng E xác định là trong thời gian chung sống, chị M và anh Hùng E có 02 người con chung tên Lê Thị Bích N, sinh năm 2002 đã trưởng và Lê Thị Bích T sinh ngày 15/12/2007 hiện đang do anh Hùng E nuôi dưỡng. Đối con chung tên Lê Thị Bích N, sinh năm 2002 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Đối với con chung Lê Thị Bích T, xét thấy việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng Hội đồng xét xử cần phải xem xét mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Quá trình giải quyết vụ án chị Trần Thị M thống nhất giao con chung Lê Thị Bích T cho anh Lê Hùng E trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Vấn đề này thấy rằng, từ trước đến nay cháu Lê Thị Bích T do anh Lê Hùng E nuôi dưỡng vẫn đảm bảo cho cháu Tuyền phát triển tốt về mọi mặt. Hơn nữa cháu Lê Thị Bích T có lời khai là nếu cha mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng được sống với cha (BL 31) nên Hội đồng xét xử cần tiếp tục giao cháu T cho anh Lê Hùng E được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với thực tế và quy định pháp luật.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị M không tranh chấp với anh Lê Hùng E nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Về chia tài sản chung: Chị Trần Thị M không tranh chấp với anh Lê Hùng E nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Chị Trần Thị M không tranh chấp với anh Lê Hùng E nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Dành cho anh Lê Hùng E một vụ kiện khác để yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nuôi con sau khi ly hôn, chia tài sản chung và nợ chung với chị Trần Thị M khi có yêu cầu.

Về án phí: Chị Trần Thị M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

[4] Quan điểm về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định trên nên được chấp nhận.

[5] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 227, 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị M.

Cho chị Trần Thị M được ly hôn với anh Lê Hùng E.

Về con chung: Con chung tên Lê Thị Bích N, sinh năm 2002 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Giao con chung tên Lê Thị Bích T, sinh ngày 15/12/2007 cho anh Lê Hùng E được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Đây cũng là phù hợp với ý chí nguyện vọng của cháu Lê Thị Bích T.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị M không tranh chấp với anh Lê Hùng E nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về chia tài sản chung: Chị Trần Thị M không tranh chấp với anh Lê Hùng E nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị Trần Thị M không tranh chấp với anh Lê Hùng E nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Dành cho anh Lê Hùng E một vụ kiện khác để yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nuôi con sau khi ly hôn, chia tài sản chung và nợ chung với chị Trần Thị M khi có yêu cầu.

Về án phí: Chị Trần Thị M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0008639 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh. Chị Trần Thị M đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Chị Trần Thị M và anh Lê Hùng E được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - Viện KSND huyện Cầu Kè;
  • - Chi CTHADS huyện Cầu Kè;
  • - UBND xã H, huyện C;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Chí Điền

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger