TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20/02/2025
V/v tranh chấp: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Lan Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Hùng và bà Đỗ Thị Kim Vân.
Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thúy Hằng- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 317/2024/TLST-HNGĐ ngày 14/11/2024 về tranh chấp "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1995 (có mặt)
HKTT và chỗ ở: Thôn C, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Anh Phạm Văn Q, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Trú tại: Thôn X, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là chị Bùi Thị H trình bày:
Chị H và anh Phạm Văn Q kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, thành phố Hà Nội ngày 16/10/2021. Sau khi tổ chức đám cưới, chị H về chung sống với anh Q tại thôn X, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, anh Q có tính gia trưởng, kiểm soát chặt chẽ chị H về mọi mặt từ giờ giấc làm việc, tiền lương, chi tiêu sinh hoạt... đồng thời ngăn cản không cho chị H giao tiếp, liên lạc với bạn bè, đồng nghiệp. Trong khi anh Q thì rượu chè, say xỉn, chị H nhiều lần khuyên nhủ nhưng không thay đổi. Đến tháng 2/2024 do vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng nên chị H về ở hẳn nhà mẹ đẻ tại thôn C, xã V, huyện T, TP Hà Nội và sống ly thân với anh Q từ đó đến nay, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin ly hôn với anh Q để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị H và anh Q có 01 con chung là cháu Phạm Nhật D, sinh ngày 03/4/2023 hiện đang ở cùng chị H. Chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu D và không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn. Hiện tại chị H đang làm lao động tự do, thu nhập khoảng từ 8 đến 10 triệu đồng/1 tháng và được bố mẹ đẻ tạo điều kiện về chỗ ở ổn định, đồng thời hỗ trợ chị H chăm sóc con cái.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh Q không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Phạm Văn Q trình bày:
Anh Q xác nhận quá trình vợ chồng kết hôn, chung sống từ năm 2021 như chị H đã trình bày. Khi chị H sinh con được một tháng thì anh Q đồng ý để chị H đưa con về nhà ngoại ở nhưng vẫn đến thăm con. Đến Tết nguyên đán năm 2024, trong thời gian ăn Tết ở nhà vợ thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi do bất đồng quan điểm, sau đó chị H đưa con về ở hẳn nhà ngoại từ đó đến nay, tình cảm vợ chồng không còn như trước. Nay chị H xin ly hôn, anh Q không mong muốn vì con còn nhỏ và đề nghị Tòa án tổ chức hòa giải. Trường hợp không hòa giải được thì chị H tự ly hôn đơn phương, anh Q xin vắng mặt. Về con chung: Anh Q và chị H có 01 con chung là cháu Phạm Nhật D, sinh ngày 03/4/2023, hiện cháu đang ở cùng chị H tại nhà ông bà ngoại. Trường hợp ly hôn, do cháu chưa đủ 03 tuổi nên giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh không có ý kiến gì. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Q và chị H không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án xem xét.
Tại phiên toà:
Nguyên đơn giữ nguyên quan điểm yêu cầu xin ly hôn với anh Q, đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Nhật D, sinh ngày 03/4/2023 và không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín tham gia phiên tòa có quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Về quan hệ pháp luật và tư cách đương sự: Tòa án xác định đúng và đầy đủ; Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện Thường Tín thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền; Về thời hạn giải quyết vụ án: Tòa án giải quyết trong hạn luật định; Về thu thập chứng cứ đủ và đúng theo quy định của pháp luật; Tại phiên tòa Hội đồng xét xử theo đúng trình tự; Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
Về nội dung vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Bùi Thị H và xử cho chị H được ly hôn với anh Phạm Văn Q. Về con chung: Giao chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Nhật D, sinh ngày 03/4/2023. Các bên không yêu cầu giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn nên không xem xét. Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự và của Đại diện Viện Kiểm sát; Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Anh Phạm Văn Q vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H và anh Phạm Văn Q kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 16/10/2021 tại UBND xã N, huyện T, thành phố Hà Nội. Như vậy, hôn nhân của anh Q và chị H là hợp pháp theo luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Qua xác minh và các đương sự thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng chị H và anh Q phát sinh nhiều mâu thuẫn và đã sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay, không quan tâm chăm sóc nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, khác biệt về quan điểm sống nên hôn nhân không hạnh phúc. Anh Q đề nghị Tòa tổ chức hòa giải mâu thuẫn cho vợ chồng anh chị nhưng lại nhiều lần vắng mặt, thể hiện anh Q không thực sự mong muốn hàn gắn tình cảm với chị H. Xét thấy, hôn nhân của chị H và anh Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng không sống chung với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị H là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về con chung: Chị H và anh Q có 01 con chung là cháu Phạm Nhật D, sinh ngày 03/4/2023. Xét thấy chị H có điều kiện để nuôi con và cháu D chưa đủ 36 tháng tuổi và hiện đang sống cùng chị H, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, giao chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu D là phù hợp với quy định của pháp luật và đảm bảo điều kiện chăm sóc tốt nhất cho cháu. Chị H và anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung, công sức đóng góp và nợ chung: Các đương sự không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Trường hợp các bên có yêu cầu và phát sinh tranh chấp thì dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác.
[5] Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự.
Căn cứ Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị H. Chị Bùi Thị H được ly hôn anh Phạm Văn Q.
- Về con chung: Giao chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Phạm Nhật D, sinh ngày 03/4/2023 đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn cho anh Q đến khi có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh Q có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, công sức đóng góp và nợ chung: Các đương sự không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Trường hợp các bên có yêu cầu và phát sinh tranh chấp thì dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác.
- Về án phí: Chị Bùi Thị H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số 0016526 ngày 14/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Chị H đã nộp đủ tiền án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đoàn Lan Hương |
Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H xin ly hôn với anh Q do mẫu thuận gia
