Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18 - 02 - 2025
V/v ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Hà Thị Nga
  • Bà Nguyễn Thị Bích Lý

- Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Hoàng Phú - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Hùng Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 194/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2025/QĐST - HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Kim A; nơi cư trú: Số A H, phường H (nay là phường T), quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt.
  2. Bị đơn: Anh Vũ Hữu Hoàng M; nơi cư trú: Số A H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/10/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Kim A trình bày: Chị và anh Vũ Hữu Hoàng M xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 27/06/2013; đến nay có 02 con chung là Vũ Minh A1, sinh ngày 19/03/2013 và Vũ Duy M1, sinh ngày 15/10/2017. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai bên bất đồng nhau về quan điểm sống, lối sống, khác biệt nhau về tính cách, anh M thường xuyên đi sớm về khuya, mải mê chơi cờ bạc dẫn đến nợ nần; từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra va chạm, cãi vã và có những lời nói làm tổn thương nhau. Hai bên gia đình đã động viên, khuyên giải và vợ chồng cũng đã cố gắng hàn gắn những rạn nứt nhưng không có kết quả, từ tháng 10/2023 đến nay vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi, không còn quan tâm đến nhau về mọi mặt. Nay chị xác định mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, tiếp tục cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vũ Hữu Hoàng M. Về con chung: Chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị Kim A nhận chịu án phí ly hôn sơ thẩm để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Đối với bị đơn anh Vũ Hữu Hoàng M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo Thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đến làm việc vào các ngày 28/11/2024, ngày 06/12/2024, Thông báo mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 06/01/2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định về thủ tục chung của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng đến ngày mở phiên tòa anh M vẫn vắng mặt. Do đó, trong hồ sơ vụ án không có bản tự khai thể hiện ý kiến của anh M cũng như không có tài liệu, chứng cứ nào ghi nhận quan điểm của anh M đối với yêu cầu khởi kiện của chị Kim A.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp; những người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Vũ Hữu Hoàng M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về việc giải quyết vụ án: Chị Kim A và anh M xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 27/06/2013 và có 02 con chung. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Kim A được ly hôn anh M; về con chung: Giao cả hai con chung là Vũ Minh A1, sinh ngày 19/03/2013 và Vũ Duy M1, sinh ngày 15/10/2017 cho chị Kim A trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; về tài sản chung: Chị Kim A không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; về án phí: Chị Kim A phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

[1] Nguyên đơn chị Trần Kim A khởi kiện xin ly hôn anh Vũ Hữu Hoàng M là tranh chấp về ly hôn; bị đơn cư trú tại địa bàn quận L, thành phố Hải Phòng nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

[2] Bị đơn anh Vũ Hữu Hoàng M đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh M.

- Về nội dung:

[3] Về hôn nhân: Chị Trần Kim A và anh Vũ Hữu Hoàng M kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Giấy chứng nhận kết hôn số 68/2013, quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân phường H, quận L, thành phố Hải Phòng cấp ngày 27 tháng 06 năm 2013 nên theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng nhau về quan điểm sống, lối sống, tính cách, thường xuyên xảy ra va chạm khiến cho tình cảm vợ chồng xa cách và đã sống ly thân mỗi người một nơi từ tháng 10/2023 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập các bên đến Tòa án để làm việc và tiến hành hoà giải nhưng anh M đều không có mặt; tại phiên toà anh M cũng không có mặt để đưa ra quan điểm của mình về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án, điều đó cho thấy anh M đã không thực sự cố gắng trong việc hàn gắn những rạn nứt trong quan hệ tình cảm vợ chồng. Tiến hành thu thập chứng cứ xác minh về thực trạng hôn nhân giữa chị Kim A và anh M tại hai bên gia đình cho thấy: Vợ chồng chị Kim A và anh M không hòa thuận từ năm 2023, do anh M mải chơi cờ bạc dẫn đến nợ nần, gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng không thay đổi, từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, chửi bới lẫn nhau và đã sống ly thân mỗi người một nơi. Xét mâu thuẫn giữa chị Kim A và anh M đã thực sự trầm trọng; cuộc sống chung không thể kéo dài; mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ vào Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xử cho chị Trầm Kim A2 được ly hôn anh Vũ Hữu Hoàng M là phù hợp.

[5] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Vũ Minh A1, sinh ngày 19/03/2013 và Vũ Duy M1, sinh ngày 15/10/2017. Chị Kim A2 đề nghị được nuôi dưỡng cả hai con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi vợ chồng sống ly thân, cả hai con chung đều ở cùng chị Kim A2, có cuộc sống ổn định nên giao con chung cho chị Kim A2 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế, phù hợp với nguyện vọng của con chung và phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung chị Kim A2 không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

[6] Về tài sản chung: Chị Kim A2 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[7] Về án phí: Chị Kim A2 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Q;

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Kim A được ly hôn anh Vũ Hữu Hoàng M.
  2. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Vũ Minh A1, sinh ngày 19/03/2013 và Vũ Duy M1, sinh ngày 15/10/2017; ly hôn, giao cả hai con chung cho chị Kim A trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  4. Về án phí: Chị Kim A phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm để nộp vào Ngân sách Nhà nước. Số tiền này chị Kim A đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân theo Biên lai thu tiền số 0003482 ngày 30 tháng 10 năm 2024.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Kim A được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh M được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  6. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - UBND phường Hàng Kênh, quận Lê Chân, TP Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh - Minh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger