Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 03/2025/HS-ST;

Ngày: 18 - 02 - 2025.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG – TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Minh Quân;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức Tân;

2. Ông Dương Vương Đạo;

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Hạnh – Thư ký

Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông: Ông Nguyễn

Thanh Toàn – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2024/TLST-HS ngày 31/12/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HS ngày 03/02/2025, đối với bị cáo:

Võ Minh P – sinh ngày 22/4/1995, tại tỉnh Tiền Giang;

Căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: ấp N, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn D, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1969; vợ: Đoàn Thị Thanh D1, sinh năm 1995 (đã ly hôn), có 01 con chung sinh năm 2018; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/7/2024, chuyển tạm giam từ ngày 11/7/2024 đến nay (có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn Đức E, sinh năm 1992. Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Võ Minh P có quen biết với Nguyễn Văn Đức E đang làm thuê đầm nuôi tôm của ông Lê Đình A tại ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Giữa P và Đức E có nhiều lần sử dụng ma túy chung với nhau tại chòi giữ đầm tôm của Đức E làm thuê tại ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

Khoảng 15 giờ ngày 07/7/2024, Đức E điện thoại kêu P lấy 25 số ma túy đá qua chòi của Đức E để cả hai cùng sử dụng, thì P đồng ý. Do P có quen biết với một người tên K (không rõ lai lịch), nên khoảng 17 giờ cùng ngày P điện thoại cho K nhờ K mua dùm 25 số ma túy đá với số tiền là 1.500.000 đồng, P sử dụng điện thoại di động thông qua ví điện tử M để chuyển cho K số tiền 1.300.000 đồng, còn thiếu lại 200.000 đồng. Sau khi P chuyển tiền cho K, thì K cho P số điện thoại không chính chủ (sim rác) của một người thanh niên (không rõ lai lịch) để liên hệ nhận ma túy. P được người thanh niên đó hướng dẫn đến khu vực cổng chào ấp X, xã B, huyện G tìm 01 hộp giấy dùng để đựng bugi xe máy bên trong có chứa 02 gói ma túy đá để nhận. P đi đến khu vực phía dước cổng chào ấp X phát hiện có 01 hộp giấy dùng để đựng bugi xe máy, nên P đến lấy nhìn thấy bên trong có 02 gói ma túy đá, nên lấy hộp giấy bỏ vào túi quần trước bên phải của P. Sau đó, P đón xe ôm để sang chòi nuôi tôm của Đức E, trên đường đi P mở hộp giấy lấy 02 gói ma túy ra bỏ vào túi quần rồi vứt bỏ hộp giấy bên lề đường. Sau khi đến chòi của Đức E, P và Đức E lấy một phần trong 01 gói ma túy ra cùng sử dụng, số còn lại P bỏ vào bóng đèn Led để ở giường gần nơi P nằm.

Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 08/7/2024, Công an huyện T kết hợp lực lượng biên phòng và chính quyền địa phương tiến hành kiểm tra thường trú tại ấp P, xã P phát hiện tại chòi nuôi tôm của Lê Đình A do Nguyễn Văn Đức E làm thuê có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra và phát hiện trên giường ngay vị trí P đang nằm có bóng đèn Led bên trong có 02 túi nylon màu trắng, bên trong túi có chứa tinh thể rắn màu trắng, P khai là ma túy. Tổ kiểm tra tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với P và tạm giữ vật chứng.

Tại bản kết luận giám định số 108/KL-KTHS ngày 10/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: 02 gói nylon màu trắng được hàn kín, có viền đỏ 01 đầu (loại túi zip) bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 3,8169 gam.

Tại Cáo trạng số 01/CT-VKSTPĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Võ Minh P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng; qua phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Võ Minh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Minh P từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 08/7/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  • - Về vật chứng:
  • + Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Vivo màu xanh đen đã qua sử dụng của bị cáo Võ Minh P.
  • + Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 hộp quẹt gas (đã qua sử dụng); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (nỏ); 01 bóng đèn Led màu vàng-trắng và số ma túy còn lại sau giám định chứa trong 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 108 ghi ngày 10/7/2024, có các chữ ký in họ tên Huỳnh Tấn L1 (giám định viên), Huỳnh Thị Diễm H (giám định viên), Trần Thanh D2 (trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên Trương Trung H1 (bên nhận) và dấu tròn màu đỏ có nội dung: Phòng K1 Công an tỉnh T trên bìa thư. Bên trong có 01 gói nylon trong suốt được dán kín (ký hiệu M1) chứa 2,4635 gam ma túy sau giám định loại Methamphetamine (Mẫu ký hiệu M1), 01 gói nylon trong suốt được dán kín (ký hiệu M2) chứa 1,2511 gam ma túy sau giám định loại Methamphetamine (Mẫu ký hiệu M2) và 02 vỏ bao gói nylon màu trắng có viền đỏ một đầu (loại túi zip), đều đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với Cáo trạng, bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, về hình phạt và xử lý vật chứng; bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: bị cáo biết bản thân đã vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận, bị cáo xin hứa sẽ làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn Đ Em vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra được thể hiện trong hồ sơ vụ án và không có yêu cầu nào khác đối với bị cáo. Xét việc vắng mặt của người này không gây trở ngại đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo Võ Minh P đã khai nhận hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có cơ sở xác định: Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 08/7/2024, tại chòi nuôi tôm của ông Lê Đình A thuộc ấp P, xã P, huyện T, lực lượng Công an đã tiến hành kiểm tra và bắt quả tang bị cáo Võ Minh P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, khối lượng ma túy thu giữ qua giám định là loại Mathamphetamine, có khối lượng 3,8169 gam.

Như vậy, Hội đồng xét xử xác định hành vi của bị cáo Võ Minh P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, hành vi của bị cáo không những góp phần làm gia tăng tệ nạn nghiện hút trong cộng đồng dân cư mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì để phục vụ cho việc sử dụng ma túy của bản thân mà bị cáo đã bất chấp pháp luật và dư luận xã hội, để thực hiện hành vi phạm tội.

[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự;
  • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự;
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, xét thấy bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, yếu tố lỗi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh, phòng ngừa chung đối với toàn xã hội.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm thuê, thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về vật chứng:

  • + Đối với vật chứng là 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Vivo màu xanh đen của bị cáo Võ Minh P, bị cáo đã sử dụng điện thoại vào việc liên lạc và chuyển tiền mua ma túy, xét nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • + Đối với số vật chứng là 01 hộp quẹt gas (đã qua sử dụng); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (nỏ); 01 bóng đèn Led màu vàng-trắng và số ma túy còn lại sau giám định chứa trong 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 108 ghi ngày 10/7/2024, có các chữ ký in họ tên Huỳnh Tấn L1 (giám định viên), Huỳnh Thị Diễm H (giám định viên), Trần Thanh D2 (trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên Trương Trung H1 (bên nhận) và dấu tròn màu đỏ có nội dung: Phòng K1 Công an tỉnh T trên bìa thư. Bên trong có 01 gói nylon trong suốt được dán kín (ký hiệu M1) chứa 2,4635 gam ma túy sau giám định loại Methamphetamine (Mẫu ký hiệu M1), 01 gói nylon trong suốt được dán kín (ký hiệu M2) chứa 1,2511 gam ma túy sau giám định loại Methamphetamine (Mẫu ký hiệu M2) và 02 vỏ bao gói nylon màu trắng có viền đỏ một đầu (loại túi zip), đều đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định. Đây là các công cụ bị cáo dùng để sử dụng, tàng trữ ma túy và số ma túy còn lại sau giám định, xét nên tịch thu tiêu hủy.

[9] Đối với người tên K và người giao ma túy cho bị cáo (không rõ lai lịch) có dấu hiệu của tội mua bán trái phép chất ma túy. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chưa xác minh được đối tượng, khi nào xác minh được đối tượng nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

[10] Đối với Nguyễn Văn Đức E hiện tại đã bỏ đi khỏi địa phương, nên cơ quan điều tra chưa làm việc được, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh truy tìm, khi nào làm việc được nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

[11] Lời luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và hướng giải quyết về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, Hội đồng xét xử có xem xét khi quyết định.

[12] Về án phí hình sự sơ thẩm: Do nhận định bị cáo có tội, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Minh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt bị cáo Võ Minh P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/7/2024.

  3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • + Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Vivo màu xanh đen đã qua sử dụng của bị cáo Võ Minh P.
    • + Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp quẹt gas (đã qua sử dụng); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (nỏ); 01 bóng đèn Led màu vàng-trắng và số ma túy còn lại sau giám định chứa trong 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 108 ghi ngày 10/7/2024, có các chữ ký in họ tên Huỳnh Tấn L1 (giám định viên), Huỳnh Thị Diễm H (giám định viên), Trần Thanh D2 (trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên Trương Trung H1 (bên nhận) và dấu tròn màu đỏ có nội dung: Phòng K1 Công an tỉnh T trên bìa thư. Bên trong có 01 gói nylon trong suốt được dán kín (ký hiệu M1) chứa 2,4635 gam ma túy sau giám định loại Methamphetamine (Mẫu ký hiệu M1), 01 gói nylon trong suốt được dán kín (ký hiệu M2) chứa 1,2511 gam ma túy sau giám định loại Methamphetamine (Mẫu ký hiệu M2) và 02 vỏ bao gói nylon màu trắng có viền đỏ một đầu (loại túi zip), đều đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/01/2025 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông)

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Võ Minh P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Tân Phú Đông;
  • - CC.THADS huyện Tân Phú Đông;
  • - CQĐT Công an huyện Tân Phú Đông;
  • - Bộ phận Thi hành án hình sự;
  • - Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Minh Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 03/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger