|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC TỈNH ĐẮK NÔNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2025/HS-ST
Ngày 14-02-2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Quang Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Ngọc Khoa và ông Phạm Thiên Viết.
Thư ký phiên tòa: Bà H'Ra Chen – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Giáp – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Lê Phạm Hoài T, tên gọi khác: Không; sinh năm 1994 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký thường trú: Thôn E, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1, sinh năm 1960 và bà Phạm Hoàng T2, sinh năm 1973; có chồng là Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1989 và 02 con (lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 19/11/2024 đến nay - có mặt.
Bị hại:
- Anh Nguyễn Viết T3, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn D, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.
- Chị Lài Thị M, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn D, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.
Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn E, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.
- Ông Lê Văn H, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn A, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Phạm Hoài T là nhân viên theo hợp đồng của Công ty cổ phần B, chi nhánh huyện T. Nhiệm vụ của T là thu cước, bán các dịch vụ như gói cước mạng, lắp đặt wifi... Do quen biết và được vợ chồng chị Lài Thị M, sinh năm 1978 và anh Nguyễn Viết T3, sinh năm 1982, trú tại thôn D, xã Q, huyện T nhờ cài đặt các dịch vụ thanh toán tài chính trên điện thoại di động thì T đã thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản của chị Lài Thị M và anh Nguyễn Viết T3, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 15 giờ ngày 30/8/2024. Lê Phạm Hoài T đến nhà chị Lài Thị M để lắp đặt mạng wifi. Sau khi tư vấn gói lắp đặt, T nói với chị M “cho cài đặt ứng dụng Viettel Monney trên điện thoại” (dịch vụ Viettel Monney cho phép người dùng thực hiện các giao dịch tài chính mọi lúc, mọi nơi không cần đến ngân hàng hay các dịch vụ chuyển tiền truyền thông) thì chị M đồng ý và đưa điện thoại di động, căn cước công dân và thẻ ngân hàng cho T để tiến hành cài đặt. Sau đó, T dùng điện thoại di động, nhãn hiệu Galaxy A12 của chị Mười T4 ứng dụng Viettel M1, rồi nhập thông tin đăng ký số điện thoại, xác thực khuôn mặt và nhập số căn cước công dân của chị M. Tiếp đến T dùng điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo Reno 6Z 5G của mình chụp ảnh hai mặt căn cước công dân của chị M, cài đặt mật khẩu (mật khẩu là “123123”). Sau khi đăng ký thàng công, T tiến hành liên kết với ngân hàng qua số tài khoản A của chị M. Lúc này có một tin nhắn (mã OTP) gửi về điện thoại di động của chị M xác nhận liên kết thành công. Khi mở đọc tin nhắn của mã OTP thấy thông báo số dư trong tài khoản ngân hàng của chị M có khoảng gần 10.000.000 đồng nên T nảy sinh ý định trộm cắp. Sau đó, T thực hiện thao tác nạp tiền từ tài khoản ngân hàng A vào ứng dụng Viettel Monney của chị M và chuyển số tiền 5.000.000 đồng qua ứng dụng Viettel Monney của T. Sau khi thực hiện xong, T để điện thoại di động, căn cước công dân của chị M trên bàn uống nước rồi đi về. Đến ngày 19/9/2024, sau khi phát hiện bị mất số tiền 5.000.000 đồng trong tài khoản ngân hàng, chị M đã đến Ngân hàng kiểm tra thì xác nhận T là người đã chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng của chị M sang số tài khoản ngân hàng của T số tiền trên, nên đã tố cáo hành vi của T đến Công an xã Q, huyện T để giải quyết.
Lần thứ hai: Vào khoảng 08 giờ ngày 05/9/2024, T đến nhà của vợ chồng anh Nguyễn Viết T3 và Lài Thị M chơi. Trong lúc nói chuyện, anh T3 nhờ T vào ứng dụng ngân hàng A trên điện thoại di động của anh T3 để cài đặt tính năng thanh toán tiền điện tự động hàng tháng, thì T đồng ý. Sau đó, anh T3 mở ứng dụng ngân hàng A và đưa điện thoại di động cho T để tiến hành cài đặt. Sau khi cài đặt xong, T không thoát ứng dụng mà kiểm tra tài khoản ngân hàng thì thấy có khoảng hơn 80.000.000 đồng, nên đã này sinh ý định trộm cắp. Với ý định trên, T không trả điện thoại cho anh T3 mà tiếp tục thực hiện một thao tác chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng A của anh T3 số 5303205138545 sang tài khoản số 1049025506 của ngân hàng V1, chủ tài khoản mang tên Nguyễn Thị Tường V, với số tiền 7.000.000 đông (đây là chủ tài khoản mà T đã vay tiền thông qua mạng xã hội Zalo trước đó). Sau khi chuyển khoản số tiền trên, T vẫn không trả lại điện thoại di động cho anh T3 mà tiếp tục tư vấn cho vợ, chồng anh T3 về việc cài đặt các ứng dụng thanh toán hóa đơn trên điện thoại di động. Sau đó, T vào ứng dụng Zalo trên điện thoại di động của anh T3 và tiến hành cài đặt ví điện tử ZaloPay (là ứng dụng cho phép người dùng thực hiện các giao dịch thanh toán trực tuyến với điện thoại di động và máy tính bảng không cần sử dụng tiền mặt) để liên kết ứng dụng tài khoản ngân hàng của anh T3 sang tài khoản ứng dụng ZaloPay của T (quá trình cài đặt ứng dụng này, tổng đài đều nhắn mã OTP đến điện thoại di động của anh T3). Khi liên kết thành công, T đã thực hiện chuyển tiền 05 lần từ tài khoản ngân hàng qua ứng dụng Zalo Pay của anh T3 sang ứng dụng ZaloPay của T với mỗi lần là 2.000.000 đồng, tổng cộng 10.000.000 đồng. Sau đó, T tiếp tục cài đặt chế độ nhắc nhở thanh toán từ ứng dụng ZaloPay của anh T3 sang ứng dụng Zalo Pay của T để tự động chuyển tiền vào ngày 11/9/2024 với số tiền 5.000.000 đồng. Tiếp theo T vào ứng dụng ZaloPay của mình cài chế độ tự động thanh toán số tiền trên qua thẻ tín dụng số [...] của T đăng ký tại Ngân hàng V2, rồi trả lại điện thoại cho anh T3 và đi về. Khi về đến nhà, T mở ứng dụng Zalo Pay chuyển số tiền 10.000.000 đồng trộm cắp từ tài khoản của T3 sang tài khoản Ngân hàng V3 của T số 0789789148 và dùng số tiền này tiêu dùng vào mục đích cá nhân hết.
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, anh T3 đi mua đồ dùng cá nhân tại cửa hàng và dùng điện thoại di động để chuyển khoản thanh toán thì phát hiện số tiền trong tài khoản ngân hàng của anh T3 bị mất là 17.000.000 đồng. Nghi ngờ T đã lấy, nên đã gọi điện thoại cho T để dò hỏi, thì T đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản và viết giấy cam kết đến ngày 10/9/2024 sẽ trả lại. Đến ngày 11/9/2024, anh T3 phát hiện tài khoản ngân hàng của anh bị trừ đi số tiền 5.000.000 đồng được chuyển sang số tài khoản ngân hàng của T nên đã trình báo đến Công an xã Q để giải quyết vụ việc.
Sau khi tiếp nhận vụ việc, Công an xã Q đã lập hồ sơ cùng vụ việc chị M đã tố cáo T có hành vi trộm cắp tài sản của chị M vào ngày 30/8/2024 chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Vật chứng đã thu giữ, gồm: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo Reno 6Z 5G, màu đa sắc; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Summo 4G V1, màu xanh; 01 thẻ ngân hàng VIB, loại online plus 2 in 1 (hai chip) do Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 phát hành; 01 giấy hẹn trả tiền của Lê Phạm Hoài T cho anh Nguyễn Viết T3, ghi ngày 05/9/2024; 02 tờ giấy số phụ/Satemment kèm theo sao kê tài khoản giao dịch của chủ tài khoản Lài Thị M và Nguyễn Viết T3 do ngân hàng A, chi nhánh huyện T cung cấp.
Cáo trạng số: 06/CT-VKS-TĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức đã truy tố bị cáo Lê Phạm Hoài T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã xác định: Vào các ngày 30/8/2024 và 09/9/2024, tại nhà của vợ chồng chị Lài Thị M và anh Nguyễn Viết T3, trú tại thôn D, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông, Lê Phạm Hoài T đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cấp tài sản của chị Lài Thị M và anh Nguyễn Việt T5 bằng hình thức chuyển khoản ngân hàng trên ứng dụng của điện thoại di động của chị Lài Thị M và anh Nguyễn Viết T3. Trong đó, 01 lần trộm cắp của chị Lài Thị M số tiền 5.000.000 đồng và 01 lần trộm cắp của anh Nguyễn Việt T5 số tiền 22.000.000 đồng mang tiêu xài cá nhân thì bị phát hiện bắt giữ. Tổng trị giá tài sản mà Lê Phạm Hoài T trộm cắp là 27.000.000 đồng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Phạm Hoài T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Phạm Hoài T từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm.
Bị cáo không có tài sản riêng nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo Reno 6Z 5G; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Summo 4G V1 bị cáo T không dùng vào việc phạm tội.
Đối với 01 thẻ ngân hàng V2 do Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 phát hành; 01 giấy hẹn trả tiền của Lê Phạm Hoài T; 02 tờ giấy sổ phụ Satemment kèm theo sao kê tài khoản giao dịch lưu trong hồ sơ vụ án.
Đối với số tiền 7.000.000 đồng do Lê Phạm Hoài T trộm cắp của anh Nguyễn Viết T3 đã được chuyển khoản ngân hàng cho đối tượng Nguyễn Thị Tường V. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng V nên không có căn cứ thu giữ.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Lê Phạm Hoài T đã bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Viết T3 số tiền 22.000.000 đồng và bồi thường cho chị Lài Thị M số tiền 5.000.000 đồng; anh T3, chị M không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.
Tại phiên toà, bị cáo Lê Phạm Hoài T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra và thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan; bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Do ý thức xem thường pháp luật nên vào các ngày 30/8/2024 và 09/9/2024, tại nhà của vợ chồng chị Lài Thị M và anh Nguyễn Viết T3, trú tại thôn D, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông, Lê Phạm Hoài T có hành vi: dùng điện thoại của chị M để cài ứng dụng Viettel Monney, dùng điện thoại của anh T3 để cài đặt ứng dụng ngân hàng A; quá trình thao tác, thấy trong tài khoản của chị M, anh T3 có tiền, T đã lén lút chuyển khoản, trộm cắp của chị Lài Thị M số tiền 5.000.000 đồng và trộm cắp của anh Nguyễn Viết T3 số tiền 22.000.000 đồng. Do đó, đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Lê Phạm Hoài T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
[3]. Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm hại đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện 02 lần phạm tội nên thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân tốt, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại anh Nguyễn Viết T3 và chị Lài Thị M tổng số tiền 27.000.000 đồng; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương nên được áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Kết hợp tình tiết giảm nhẹ nêu trên để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo và xét thấy không cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo để tự học tập, cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo và thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.
Bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5]. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo Reno 6Z 5G; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Summo 4G V1 bị cáo T không dùng vào việc phạm tội.
Đối với 01 thẻ ngân hàng V2 do Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 phát hành; 01 giấy hẹn trả tiền của Lê Phạm Hoài T; 02 tờ giấy sổ phụ Satemment kèm theo sao kê tài khoản giao dịch tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh T3 và chị M không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
[7]. Đối với đối tượng Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 2001, trú tại Buôn H, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk là chủ tài khoản 1049025506 đăng ký tại ngân hàng V1 được T chuyển số tiền 7.000.000 đồng trộm cắp từ tài khoản ngân hàng của anh Nguyễn Viết T3; chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý theo quy định của pháp luật.
[8]. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật
[9]. Về án phí: Bị cáo Lê Phạm Hoài T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Phạm Hoài T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Phạm Hoài T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Phạm Hoài T cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông phối hợp cùng gia đình quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ các Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo Reno 6Z 5G; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Summo 4G V1
Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án đối với 01 thẻ ngân hàng V2 do Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 phát hành; 01 giấy hẹn trả tiền của Lê Phạm Hoài T; 02 tờ giấy sổ phụ Satemment kèm theo sao kê tài khoản giao dịch.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/01/2025 giữa Công an xã Q, huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Phạm Hoài T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Phạm Hoài T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Phan Quang Trung |
Bản án số 03/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 03/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
