|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2025/HSST
Ngày: 14 - 02 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mã Thị Diệu .
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Xuân và bà Nguyễn Thị Minh Tâm.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Ly - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Biên - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2025/TLST- HS ngày 14/01/2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Hoàng Văn P; tên gọi khác: không, sinh ngày 17 tháng 01 năm 1996 tại xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: xóm N, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Hoàng Văn Đ (đã chết) và con bà: Hoàng Thị H, sinh năm 1973; vợ, con: Chưa có;
Tiền án: Không có;
Tiền sự: Ngày 15/7/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc trong thời hạn 24 tháng.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/10/2024 đến nay, hiện nay đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng; có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Nông Thị X, sinh năm 1988; nơi thường trú: Xóm B- Bản G, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Hoàng Thị N, sinh năm 1993; nơi thường trú: Xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Những người làm chứng:
2
+ Hoàng Văn Đ, sinh năm 1968; nơi thường trú: Xóm B, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng;
+ Nông Văn Đ1, sinh năm 1994; nơi thường trú: Xóm Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
+ Phùng Văn T, sinh năm 1995; nơi thường trú: Xóm B- Bản G, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
+ Hoàng Văn T1, sinh năm 1987; nơi thường trú: Xóm B- Bản G, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 28/10/2024, chị Nông Thị X, sinh năm 1988, trú tại xóm B - Bản G, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng đến Công an xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng trình báo về việc, vào khoảng 06 giờ sáng cùng ngày, chị phát hiện mất trộm số tiền 3.300.000,đ để trong két sắt đặt ở buồng ngủ của gia đình. Chị X nghi ngờ Hoàng Văn P, sinh năm 1996, trú tại xóm N, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng là người đã trộm cắp. Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an xã Đ đã thông báo và phối hợp với Công an huyện T tiến hành kiểm tra, xác minh và triệu tập Hoàng Văn P để làm việc. Quá trình làm việc, P khai nhận là người đã trộm cắp số tiền trên và giao nộp 1.589.000,đ, là số tiền còn lại Phi trộm cắp được chưa kịp chi tiêu. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường và cho Hoàng Văn P xác định hiện trường vụ việc. Ngày 08/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T yêu cầu định giá đối với 01 két sắt nhãn hiệu “KIMKHIVIETTIEP”. Ngày 06/12/2024 Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự huyện T có Công văn từ chối giám định do không đủ cơ sở để định giá giá trị của tài sản.
Quá trình điều tra xác định: Chiều ngày 27/10/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nhưng không có tiền, Hoàng Văn P đã nảy sinh ý định tìm tài sản để trộm cắp. P đi bộ từ nhà đến xóm B- Bản G, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng thì phát hiện nhà chị Nông Thị X khóa cửa bên ngoài. Phi quan sát xung quanh thấy không có người nên đi vòng ra đằng sau, trèo qua hàng rào đến cửa bếp phía sau rồi dùng ngón trỏ của hai tay gạt thanh kim loại chốt bên trong để mở cửa. Vào được trong bếp, P lấy 01 con dao bằng kim loại dài 0,35m, lưỡi dao dài 0,24m, thân dao rộng 0,075m đặt ở trên thớt cậy, mở cửa ngách để đi vào nhà chính. Mở được cửa, P cất dao về chỗ cũ. Vào được nhà chính, P quan sát xung quanh rồi đi vào buồng ngủ thấy 01 két sắt dựng sát tường bên trái, bên trên để nhiều sách vở học sinh và đi đến mở két sắt nhưng không được. Sau đó, P để các tập sách vở lên giường, kéo két sắt úp mặt trước dựa vào thành giường để mặt sau két hướng lên trên. P quay lại bếp lấy con dao trước đó, đục vào mặt sau két sắt tạo được khoảng hở kích thước (0,22 x 0,12 x 0,05)m. P dùng tay phải móc được 01
3
túi nilon bên trong có 3.300.000,đ. Lấy được tiền, P đặt lại két sắt, các tập sách vở và đặt lại con dao về vị trí cũ. P đi ra cửa sau, chốt cửa lại rồi theo đường cũ tẩu thoát.
Số tiền trộm cắp được, P dùng 410.000,đ để chuộc điện thoại tại cửa hàng điện thoại "Thành Công Mobile"; tự mình và cùng Hoàng Văn T1, sinh năm 1987; Phùng Văn T, sinh năm 1995, cùng trú tại xóm B - Bản G, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng mua ma túy hết 1.000.000 đồng với một người đàn ông không quen biết tại xã C, huyện T để sử dụng; đưa cho Phùng Văn T mua xăng 120.000,đ và chi tiêu cá nhân hết 181.000,đ (tổng 1.711.000,đ), còn lại 1.589.000,đ bị Cơ quan CSĐT Công an huyện T thu giữ trong quá trình làm việc.
Cùng ngày 28/10/2024, chị Hoàng Thị N, sinh năm 1993, trú tại xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng, chủ cửa hàng điện thoại “Thành Công Mobile” thuộc xóm P, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng giao nộp 01 tờ tiền mệnh giá 500.000,đ do P dùng để chuộc điện thoại.
Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKSTK ngày 14/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng đã truy tố Hoàng Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Hoàng Văn P thừa nhận nội dung bản Cáo trạng phản ánh đúng hành vi phạm tội của mình, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật.
Bị hại Nông Thị X khai về thời gian, địa điểm chị bị mất tài sản như Cáo trạng đã nêu. Bị hại yêu cầu bị cáo Hoàng Văn P trả lại số tiền 3.300.000,đ đã trộm cắp; chiếc két sắt bị đục phá chị X không yêu cầu bị cáo P bồi thường; con dao bị cáo dùng để cạy cửa và phá két sắt là của gia đình chị X nên yêu cầu được trả lại.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị N vắng mặt, có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện, ngày 27/10/2024 Hoàng Văn P đến cửa hàng của chị và bảo cho chuộc lại điện thoại đang cầm cố ở cửa hàng, P đưa cho chị 500.000,đ và chị đã bù lại cho P 90.000,đ, khi nhận tiền chị không biết số tiền này bị cáo trộm cắp được, sau đó chị đã giao nộp lại số tiền 500.000,đ cho Cơ quan điều tra; tại đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 12/02/2025 chị Hoàng Thị N không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 500.000,đ trên.
Người làm chứng Hoàng Văn Đ vắng mặt nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra: Tối ngày 27/10/2024 Hoàng Văn P đến cửa hàng tạp hóa của anh ở N, Đ, T, Cao B mua thuốc lá và nước ngọt với số tiền 36.000,đ, anh không biết số tiền này do bị cáo trộm cắp mà có.
Người làm chứng Nông Văn Đ1 vắng mặt, có lời khai tại cơ quan điều tra: Ngày 27/10/2024 anh có được bán xi lanh, nước cất cho Hoàng Văn P tại cửa hàng bán thuốc của anh với số tiền 13.000,đ; anh không biết số tiền này do bị cáo trộm cắp mà có.
4
Người làm chứng Phùng Văn T vắng mặt, có lời khai tại cơ quan điều tra: Khoảng 20h ngày 27/10/2024 anh cùng Hoàng Văn P đi mua ma túy để sử dụng, P một mình đi mua ma túy và nói mua hết 400.000,đ, sau khi cùng nhau sử dụng ma túy anh nói xe hết xăng nên P đưa cho anh 120.000,đ, anh không biết số tiền này P trộm cắp có được nên đã tiêu sài cá nhân hết.
Người làm chứng Hoàng Văn T1 vắng mặt, có lời khai tại cơ quan điều tra: Ngày 27/10/2024 anh được cùng Hoàng Văn P góp tiền đi mua ma túy và cùng sử dụng ma túy sau đó trên đường về P mua trứng gà với một người không quen biết.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn P từ 09 đến 15 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản"; do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, buộc bị cáo Hoàng Văn P trả lại số tiền trộm cắp được là 3.300.000,đ cho bị hại Nông Thị X (Trong đó có 1.589.000,đ Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo + 500.000,đ người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị N giao nộp = 2.089.000,đ), nay buộc bị cáo phải hoàn trả thêm cho bị hại 1.211.000,đ; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị N không yêu cầu bồi thường nên không xem xét. Về vật chứng vụ án, căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 túi nilon có bám dính chất màu nâu đỏ và 02 mẫu máu tại mặt trong và ngoài két sắt; trả lại cho bị hại Nông Thị X: 01 con dao bằng kim loại dài 0,35m, rộng 0,075m, lưỡi dao dài 0,24m đã qua sử dụng, 01 két sắt nhãn hiệu “KIMKHIVIETTIEP” đã qua sử dụng và số tiền 2.089.000,đ . Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại không tranh luận; bị cáo có lời nói sau cùng mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
5
[2] Về căn cứ buộc tội: Lời khai nhận của bị cáo Hoàng Văn P tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị N và lời khai của những người làm chứng đã khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm bị hại bị mất tiền; phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ, nên đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Chiều ngày 27/10/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nhưng không có tiền, Hoàng Văn P đã nảy sinh ý định tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến nhà chị Nông Thị X thấy nhà chị X khóa cửa bên ngoài. Bị cáo quan sát xung quanh thấy không có người nên đi vòng ra đằng sau, trèo qua hàng rào đến cửa bếp phía sau rồi dùng ngón trỏ của hai tay gạt thanh kim loại chốt bên trong để mở cửa. Vào được trong bếp, bị cáo lấy 01 con dao bằng kim loại dài 0,35m, lưỡi dao dài 0,24m, thân dao rộng 0,075m đặt ở trên thớt cậy, mở cửa ngách để đi vào nhà chính. Mở được cửa, bị cáo cất dao về chỗ cũ. Vào được nhà chính, bị cáo quan sát xung quanh rồi đi vào buồng ngủ thấy 01 két sắt dựng sát tường bên trái, bên trên để nhiều sách vở học sinh, bị cáo đi đến mở két sắt nhưng không được. Sau đó, bị cáo để các tập sách vở lên giường, kéo két sắt úp mặt trước dựa vào thành giường để mặt sau két hướng lên trên, quay lại bếp lấy con dao trước đó đục vào mặt sau két sắt tạo được khoảng hở kích thước (0,22 x 0,12 x 0,05)m. Bị cáo dùng tay phải móc được 01 túi nilon bên trong có 3.300.000,đ. Lấy được tiền, bị cáo đặt lại két sắt, các tập sách vở và đặt lại con dao về vị trí cũ rồi đi ra cửa sau, chốt cửa lại, theo đường cũ tẩu thoát. Sau khi trộm được tiền bị cáo đã tiêu sài cá nhân hết 1.711.000,đ còn 1.589.000,đ Cơ quan Công an thu giữ.
Do đó, hành vi của bị cáo Hoàng Văn P đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát huyện T truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý, bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ quản lý tài sản để trộm cắp, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo nghiện ma túy và có 01 tiền sự: Ngày 15/7/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc trong thời hạn 24 tháng.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội
6
đặc biệt khó khăn nên bị cáo P được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, sau khi xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân; Hội đồng xét xử xét thấy để ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới thì việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.
[6] Đối với Hoàng Văn T1 là người nghiện ma túy, cùng góp tiền với bị cáo đi mua ma túy và chia nhau sử dụng hết do đó không đủ căn cứ xử lý về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; đối với Phùng Văn T, do khi đi mua ma túy và nhận tiền từ bị cáo T không biết là tiền P phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý T về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là đúng quy định pháp luật.
[7] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định hình phạt bổ sung bằng tiền; xét thấy, do bị cáo nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không phạt hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi trộm cắp số tiền 3.300.000,đ bị cáo Hoàng Văn P đã tiêu sài cá nhân hết 1.711.000,đ, số tiền còn lại 1.589.000,đ bị Công an thu giữ; ngoài ra người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị N sau khi biết số tiền bị cáo P chuộc điện thoại do trộm cắp có được đã giao nộp cho cơ quan Công an 500.000,đ.
Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 580 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Hoàng Văn P phải trả cho bị hại Nông Thị X số tiền 3.300.000,đ (Trong đó có 1.589.000,đ Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo + 500.000,đ người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị N giao nộp = 2.089.000,đ), nay bị cáo còn phải hoàn trả lại cho bị hại là 1.211.000,đ (Một triệu hai trăm mười một nghìn đồng).
Đối với số tiền 500.000,đ bị cáo dùng để chuộc điện thoại với chị Hoàng Thị N, chị N đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan Công an và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[9] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- 01 con dao bằng kim loại dài 0,35m, rộng 0,075m, lưỡi dao dài 0,24m, đã qua sử dụng; đây là con dao của gia đình bị hại nên trả lại cho chị Nông Thị X;
- 01 két sắt nhãn hiệu “KIMKHIVIETTIEP”, VIETTIEPMODEL: K3,5, NO: 5463, đã qua sử dụng; đây là chiếc két sắt của gia đình bị hại nên trả lại cho bị hại Nông Thị X;
- 01 túi nilon có bám dính chất màu nâu đỏ và 02 mẫu máu tại mặt trong và ngoài két sắt là vật chứng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
7
- “Số tiền 1.589.000,đ tạm giữ đối với Hoàng Văn P ngày 28/10/2024, đây là số tiền còn lại trong tổng số tiền bị cáo Hoàng Văn P trộm cắp của bị hại nên trả lại cho chị Nông Thị X.
- “Số tiền 500.000 đồng do Hoàng Thị N giao ngày 28/10/2024”, số tiền này người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị N tự nguyện giao nộp lại cho Cơ quan Công an khi biết đây là tiền bị cáo P trộm cắp mà có nên trả lại cho bị hại Nông Thị X.
[10] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo cũng như các vấn đề khác liên quan trong vụ án phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Bị cáo Hoàng Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản".
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn P 09 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam 28/10/2024.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 580 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Hoàng Văn P phải trả cho bị hại Nông Thị X, nơi thường trú: Xóm B- Bản G, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng số tiền 1.211.000đ (Một triệu hai trăm mười một nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357 và 468 của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 túi nilon có bám dính chất màu nâu đỏ;
8
+ 02 mẫu máu tại mặt trong và ngoài két sắt;
- Trả lại cho bị hại Nông Thị X, nơi thường trú: Xóm B- Bản G, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng:
+ 01 con dao bằng kim loại dài 0,35m, rộng 0,075m, lưỡi dao dài 0,24m, đã qua sử dụng;
+ 01 két sắt nhãn hiệu “KIMKHIVIETTIEP”, VIETTIEPMODEL: K3,5, NO: 5463, đã qua sử dụng;
+ Số tiền 2.089.000,đ (Hai triệu không trăm tám mươi chín nghìn đồng).
Xác nhận số vật chứng trên đã chuyển sang cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Trùng Khánh tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/01/2025 và Giấy nộp tiền ngày 13/02/2025.
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; điểm b khoản 1 Điều 24 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
Buộc bị cáo Hoàng Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm số tiền 300.000 đồng; tổng cộng bị cáo phải chịu án phí số tiền là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; chị Hoàng Thị N có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Mã Thị Diệu |
9
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Hoàng Văn Xuân Nguyễn Thị Minh Tâm |
Mã Thị Diệu |
10
Bản án số 03/2025/HSST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 03/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Phi trộm cắp tài sản
