TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST
Ngày 13 - 02 - 2025
“Về việc xác định con cho cha”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Vi Thanh Hà
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bẩy và ông Lưu Xuân Giới
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Ngô Thị Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Hoàng – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 153/2024/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về xác định con cho cha” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2025, giữa:
* Nguyên đơn: Anh Đào Văn K; nơi cư trú: khu L, phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
* Bị đơn: Chị Nguyễn Quế C; nơi cư trú: khu L, phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T; nơi cư trú: số C Bình Thuận, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt (có đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn trình bày:
Năm 2017, anh Đào Văn K và chị Nguyễn Quế C có mối quan hệ tình cảm với nhau. Tại thời điểm đó, anh K có biết chị C đã kết hôn với anh Nguyễn Văn T, nhưng đã sống ly thân. Ngày 22/8/2024, chị C và anh T ly hôn theo Quyết định số 348/2024/QÐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Trong thời gian quan hệ tình cảm với chị C, chị C có sinh 03 con đều là con chung của anh K và chị C gồm:
- Cháu bé dự kiến đặt tên là Đào Bảo A, sinh ngày 10/10/2018.
- Cháu bé dự kiến đặt tên là Đào Bảo B, sinh ngày 04/8/2021.
- Cháu bé dự kiến đặt tên là Đào Bảo L, sinh ngày 10/7/2024.
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các con, anh yêu cầu Tòa án xác định các con dự kiến đặt tên là Đào Bảo A, Đào Bảo B, Đào Bảo L là con đẻ của anh Đào Văn K.
* Tại bản tự khai ngày 25/11/2024 và tại phiên tòa, bị đơn chị Nguyễn Quế C trình bày:
Năm 2014, chị C kết hôn với anh Nguyễn Văn T, do vợ chồng mâu thuẫn sống không có tình cảm nên sống ly thân từ cuối năm 2015, khi ly thân, mỗi người ở một nơi, năm 2024 chị C và anh T ly hôn theo Quyết định số 348/2024/QÐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Trước khi chị C và anh T giải quyết ly hôn, từ năm 2017 chị C có quan hệ tình cảm với anh Đào Văn K. Ngày 10/10/2018, chị có sinh con tại bệnh viện S1 và dự định đặt tên con là Đào Bảo A; ngày 04/8/2021, chị có sinh con thứ hai tại bệnh viện S1 và dự định đặt tên con là Đào Bảo B; ngày 10/7/2024, chị có sinh con thứ ba tại bệnh viện S1 và dự định đặt tên con là Đào Bảo L. Cả 03 người con trên đều là con chung của chị C với anh K.
Nay anh Đào Văn K khởi kiện, yêu cầu Tòa án xác định các con Đào B, Đào Bảo B và Đào Bảo L là con đẻ của anh Đào Văn K, chị C đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh K.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có bản tự khai đề ngày 23/12/2024 trình bày:
Năm 2014, anh T và chị Nguyễn Quế C kết hôn và chung sống với nhau tại ấp Q, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn, đến cuối năm 2015 thì cả hai sống ly thân, trong thời gian vợ chồng ly thân, chị C có sinh 03 người con là Đào Bảo A, Đào Bảo B và Đào Bảo L. Cả 03 con do chị C sinh trong thời kỳ hôn nhân với anh T không phải là con đẻ của anh T vì trong thời gian đó anh T và chị C đã ly thân. Anh T có được biết, chị C và anh Đào Văn K có quan hệ tình cảm với nhau trong thời gian anh T và chị C sống ly thân. Vì vậy, anh T đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh Đào Văn K. Hiện anh T đang ở xa, không có điều kiện đến Tòa án tham gia tố tụng, vì vậy anh T đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều đã thông báo cho anh Đào Văn K được biết về việc trưng cầu giám định ADN, anh K đề nghị Tòa án không tiến hành trưng cầu giám định do anh đã làm thủ tục giám định ADN tại công ty TNHH Đ, kết quả phân tích ADN đều kết luận anh có quan hệ huyết thống bố - con với các con dự định đặt tên lần lượt là Đào Bảo A, sinh ngày 10/10/2018; Đào Bảo B, sinh ngày 04/8/2021 và Đào Bảo L, sinh ngày 10/7/2024.
Tại công văn số 291101/CV.GP ngày 29/11/2024 của công ty TNHH Đ về việc phúc đáp Quyết định số 03/2024/QĐ-CCTLCC của Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều có nội dung thể hiện: công ty TNHH Đ có chức năng xét nghiệm AND huyết thống theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do Sở K1 cấp ngày 20/01/2020. Ngày 08/7/2024, công ty TNHH Đ có nhận được đơn yêu cầu làm thủ tục phân tích ADN của anh Đào Văn K về việc xác nhận huyết thống cha – con giữa ông Đào Văn K với người có tên dự kiến Đào Bảo A (giới tính: nữ; sinh ngày 10/10/2018, giấy chứng sinh số 22150.18.10056; ngày cấp 12/10/2018; nơi cấp: bệnh viện sản nhi tỉnh S1) và người có tên dự kiến Đào Bảo B (giới tính: nam; sinh ngày 04/8/2021; giấy chứng sinh số 11549, ngày cấp 06/8/2021; nơi cấp: bệnh viện sản nhi tỉnh S1). Ngày 20/9/2024; công ty có nhận thêm đơn yêu cầu làm thủ tục phân tích ADN của anh Đào Văn K xác nhận huyết thống cha – con giữa anh Đào Văn K với người có tên dự kiến Đào Bảo L (giới tính: nam; sinh ngày 10/7/2024; giấy chứng sinh số 3546, ngày cấp 10/7/2024; nơi cấp: bệnh viện sản nhi tỉnh S1). Công ty đã tiến hành lấy mẫu trực tiếp theo trình tự, thủ tục pháp lý theo quy định. Kết quả phân tích ADN ngày 10/7/2024 của công ty TNHH Đ kết luận, Đào Văn K có quan hệ huyết thống bố - con với người có tên dự kiến Đào Bảo A, độ tin cậy >99,9999%; Kết quả phân tích ADN ngày 10/7/2024 của công ty TNHH Đ kết luận, Đào Văn K có quan hệ huyết thống bố - con với người có tên dự kiến Đào Bảo B, độ tin cậy >99,9999%; kết quả phân tích ADN ngày 23/9/2024 của công ty TNHH Đ kết luận, Đào Văn K có quan hệ huyết thống bố - con với người có tên dự kiến Đào Bảo L, độ tin cậy >99,9999%.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa quá trình tiến hành tố tụng, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: căn cứ khoản 1 Điều 89; khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xác định con cho cha.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng: anh Đào Văn K khởi kiện yêu cầu xác định con cho cha với bị đơn chị Nguyễn Quế C có nơi cư trú tại khu L, phường H, thành phố Đ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều theo quy định tại khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Năm 2014, anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Quế C kết hôn và chung sống với nhau tại ấp Q, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Quá trình chung sống đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, đến cuối năm 2015 sống ly thân. Sau khi ly thân, năm 2017 chị C có quen biết, phát sinh tình cảm với anh Đào Văn K. Trong thời gian quan hệ tình cảm với anh K, chị Nguyễn Quế C sinh 03 người con dự định đặt tên là Đào Bảo A, sinh ngày 10/10/2018 (giấy chứng sinh số 10,625.00 do bệnh viện S1 cấp ngày 12/10/2018); Đào Bảo B, sinh ngày 04/8/2021 (giấy chứng sinh số 11549 do bệnh viện S1 cấp ngày 06/8/2021) và Đào Bảo L, sinh ngày 10/7/2024 (giấy chứng sinh số 3546 do bệnh viện S1 cấp ngày 10/7/2024) là trong thời kỳ hôn nhân của chị Nguyễn Quế C với anh Nguyễn Văn T. Tuy nhiên, chị C và anh T đều xác định anh chị có mâu thuẫn và đã ly thân từ cuối năm 2015 nên cả ba con đều không phải con đẻ của anh T.
Anh Đào Văn K là người có quan hệ tình cảm và chung sống với chị Nguyễn Quế C khi chị C ly thân với anh T, anh K đã làm thủ tục yêu cầu công ty TNHH Đ thực hiện giám định huyết thống giữa anh và 03 con, kết quả phân tích ADN kết luận anh Đào Văn K có quan hệ huyết thống bố - con với các con dự định đặt tên là Đào Bảo A, Đào Bảo B và Đào Bảo L.
Mặc dù Tòa án không thực hiện trưng cầu giám định về huyết thống giữa anh K và các con Đào B, Đào Bảo B và Đào Bảo L, tuy nhiên trên cơ sở kết quả phân tích ADN do anh Đào Văn K cung cấp và các tài liệu chứng cứ do công ty TNHH Đ cung cấp cho Tòa án, Hội đồng xét xử thấy rằng, công ty TNHH Đ có giấy phép kinh doanh trong lĩnh vực giám định ADN, kết quả giám định ADN của công ty là hoàn toàn khách quan, đảm bảo tính pháp lý. Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định 03 con dự định đặt tên là Đào Bảo A, sinh ngày 10/10/2018 (giấy chứng sinh số 10,625.00 do bệnh viện S1 cấp ngày 12/10/2018); Đào Bảo B, sinh ngày 04/8/2021 (giấy chứng sinh số 11549 do bệnh viện S1 cấp ngày 06/8/2021) và Đào Bảo L, sinh ngày 10/7/2024 (giấy chứng sinh số 3546 do bệnh viện S1 cấp ngày 10/7/2024) là con đẻ của anh Đào Văn K.
[3] Về án phí: căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, người yêu cầu xác định con cho cha được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 89, 101, 102 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về xác định con cho cha: Các con dự định đặt tên là Đào Bảo A, sinh ngày 10/10/2018 (giấy chứng sinh số 10,625.00 do bệnh viện S1 cấp ngày 12/10/2018); Đào Bảo B, sinh ngày 04/8/2021 (giấy chứng sinh số 11549 do bệnh viện S1 cấp ngày 06/8/2021) và Đào Bảo L, sinh ngày 10/7/2024 (giấy chứng sinh số 3546 do bệnh viện S1 cấp ngày 10/7/2024) là con đẻ của anh Đào Văn K.
Về án phí: Anh Đào Văn K được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Vi Thanh Hà |
Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp về xác định con cho cha
- Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về xác định con cho cha
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về xác định con cho cha
