|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2025/HNGĐ-PT Ngày: 13 - 02 - 2025 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn.
Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Hà và ông Ngô Thế Tương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Trung Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Phạm Thanh Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 32/2024/TLPT-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 121/2024/QĐ-PT ngày 13 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2025/QĐ-PT ngày 02 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2025/QĐ-PT ngày 14 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2025/QĐ-PT ngày 23 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị H, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Bị đơn: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Người kháng cáo: Bị đơn – anh Vũ Văn T. (Chị H, anh T vắng mặt, đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - chị Trịnh Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ (nay là xã Đ), huyện T, tỉnh Thái Bình vào ngày 20/10/2001. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau không có hạnh phúc, ngay từ những ngày đầu tiên đã thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân của mâu thuẫn là do anh T thường xuyên đánh đập chị, đã có lần chị đã viết đơn trình báo lên Công an xã Đ. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên từ ngày 17/7/2023 (âm lịch) chị đã bỏ về nhà bố, mẹ đẻ của chị ở cùng thôn T, xã Đ để sinh sống, từ đó đến nay chị không chung sống cùng anh T nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể quay lại chung sống cùng nhau được nữa nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
- Về quan hệ con chung: Chị và anh T có 03 con chung là Vũ Văn T1, sinh ngày 27/7/2002 đã trên 18 tuổi, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết; Vũ Văn T2, sinh ngày 20/7/2011 và Vũ Thị Lan A, sinh ngày 18/02/2013, ly hôn, chị xin được nuôi cả 02 con, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng là 3.000.000 đồng/01 tháng/02 con. Nếu không được nuôi cả 02 con, chị xin nuôi con Lan A, nhường con T2 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung:
Về công nợ chung: Vợ, chồng chị không có công nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Theo chị tài sản chung của vợ, chồng gồm có:
- + Tiền Nhà nước đền bù đối với việc thu hồi đất 02 lúa của hai vợ chồng chị được 199.293.000 đồng vào khoảng tháng 9 năm 2023 do anh T trực tiếp nhận và vẫn đang quản lý.
- + Quyền sử dụng diện tích 425 m² đất ở tại thửa đất số 258, tờ bản đồ số 01 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hai vợ chồng chị vào năm 2004 tại thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình, khi xem xét thẩm định tại chỗ diện tích đất chỉ còn 420 m², chị chấp nhận diện tích theo như xem xét thẩm định tại chỗ.
- + Toàn bộ công trình xây dựng trên đất gồm: 01 nhà mái bằng và công trình phụ 01 tầng, sân, mái tôn, bể nước cùng cây cối hoa màu trên đất và toàn bộ đồ dùng sinh hoạt trong gia đình như: Bàn ghế, loa đài, tivi, tủ lạnh, giường, tủ, máy giặt, và 01 xe máy Wave.
Nguồn gốc các tài sản do hai vợ chồng cùng tạo lập nên. Quan điểm của chị chỉ yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng đối với số tiền đền bù là 199.293.000 đồng và 420 m² đất và công trình xây dựng trên đất. Nguyện vọng của chị đề nghị chia đôi mỗi người một nửa và chị nhường phần đất có các công trình xây dựng trên đất cho anh T sở hữu, sử dụng còn chị sẽ sử dụng phần đất không có công trình trên đất và chị không yêu cầu anh T phải thanh toán chênh lệch về giá trị tài sản cho chị.
Đối với toàn bộ số đồ dùng sinh hoạt trong gia đình, xe máy và hoa màu trồng trên đất chị không yêu cầu Toà án chia. Chị nhường toàn bộ số đồ dùng sinh hoạt trong gia đình, xe máy cho anh T sở hữu, hoa màu trồng trên đất sau này phần đất đó chia cho ai thì người đó hưởng.
Trong quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn - anh Vũ Văn T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh hoàn toàn đồng ý với ý kiến của chị H vừa trình bày về điều kiện, thời gian kết hôn. Tuy nhiên, về quá trình chung sống vợ chồng, anh thừa nhận là anh có đánh chị H nhưng không phải vô cớ mà anh đánh, tất cả các lần đánh đều có lý do, vì chị H không nghe lời anh và chị H có người đàn ông khác. Khoảng tháng 8/2023, chị H tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, anh đã nhiều lần đến nhà bố mẹ đẻ chị H để đón chị H về nhà để vợ chồng tiếp tục chung sống nhưng mẹ chị H bảo không cho chị H về vì sợ về nhà anh lại tiếp tục đánh chị H. Về nhận thức anh thấy thấy rằng anh đánh chị nhiều lần là không đúng và anh sẽ sửa vào thời gian gần nhất. Đến nay chị H có đơn xin ly hôn anh, quan điểm của anh là xin được đoàn tụ để vợ chồng về tiếp tục chung sống với nhau, cùng nuôi dạy con cái nên người như bao gia đình khác, ai sai thì người đó phải sửa. Nhưng nếu chị H quyết tâm đòi ly hôn thì anh cũng đồng ý.
- Về quan hệ con chung: Anh và chị H có 03 con chung là Vũ Văn T1, sinh ngày 27/7/2002 đã trưởng thành, Vũ Văn T2, sinh ngày 20/7/2011 và Vũ Thị Lan A, sinh ngày 18/02/2013. Ly hôn, anh và chị H mỗi người nuôi 01 con và anh nuôi con nào cũng được và không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.
- Về tài sản chung và công nợ chung:
Về công nợ chung: Anh T khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung vợ chồng: Anh T khẳng định có những tài sản như chị H trình bày. Quan điểm của anh là: Đối với nhà và đất để lại hết cho 03 con chung, không chia. Đối với số tiền đền bù mà anh nhận 199.293.000 đồng thì anh đồng ý chia cho chị H một nửa.
Tại biên bản xác minh ngày 22/5/2024, Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình cung cấp: Anh Vũ Văn T và chị Trịnh Thị H đều có hộ khẩu thường thú tại thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. Anh T, chị H tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ (nay là xã Đ) vào ngày 20/10/2001. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng nhau tại xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình, quá trình chung sống cũng có mâu thuẫn và to tiếng. Nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể thì địa phương không nắm được. Anh T và chị H có 03 con chung như anh chị đã trình bày. Về tài sản chung của vợ chồng: Anh T và chị H có 01 thửa đất và nhà trên đất tại thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. Năm 2023, chị H và anh T được nhận tiền bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng đợt 2, giai đoạn 1 của khu công nghiệp H là 199.293.000 đồng do anh T nhận.
Về sự biến động diện tích tại thửa đất của anh T, chị H (so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị giảm đi 05 m²) là do sai số trong đo đạc, tứ cận và mốc giới thửa đất không bị thay đổi, không có tranh chấp gì với các hộ liền kề. Xác định thửa đất của anh T chị H là 420 m², trong đó 300 m² đất ở nông thôn và 120 m² đất vườn tạp.
Tại biên bản xác minh ngày 24/6/2024, Trung tâm phát triển quỹ đất huyện T cung cấp: Anh Vũ Văn T chị Trịnh Thị H được nhận số tiền bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng thực hiện dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng CXB-01, MNB-01, CNG-01, DVB-01, HC-DV khu công nghiệp H (đợt 2) tổng số tiền là 199.293.000 đồng. Trong đó tiền bồi thường đất là 63.798.000 đồng, tiền hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm là 95.697.000 đồng, tiền hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất là 32.400.000 đồng, tiền bồi thường lúa chưa đến kỳ thu hoạch là 7.398.000 đồng. Theo biên bản trả tiền ngày 06/9/2023 thì người nhận tiền là anh Vũ Văn T, anh T đã nhận đủ số tiền 199.293.000 đồng vào ngày 06/9/2023 tại Hội trường ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và biên bản định giá tài sản ngày 22/5/2024 thể hiện: Tại thửa đất số 258, tờ bản đồ số 01 có diện tích 420 m², trong đó 300 m² đất ở nông thôn và 120 m² đất vườn tạp, địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. Đất đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Thái Bình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00202 QSDĐ/2712/QĐ-UB ngày 20 tháng 6 năm 2004 mang tên ông Vũ Văn T bà Trịnh Thị H. Đất có tứ cận cụ thể như sau: Phía Đông giáp thửa 188 và 190; Phía Tây giáp đường giao thông; Phía Nam giáp thửa 105; Phía Bắc giáp đường giao thông.
Giá trị của 300 m² đất ở là: 1.080.000 đồng/01m² x 300 m² = 324.000.000 đồng.
Giá trị của 120 m² đất trồng cây lâu năm là: 54.000 đồng/01m² x 120 m² = 6.480.000 đồng.
Công trình xây dựng trên đất gồm: 01 nhà mái bằng xây dựng năm 2007 có cầu thang chờ lên tầng 2, diện tích 60 m² giá trị còn lại là 96.000.000 đồng; Nhà phụ xây năm 2015 diện tích là 24,6 m², giá trị còn lại là 78.720.000 đồng; Mái tôn xây năm 2022 giá trị còn lại là 4.970.000 đồng; 01 bể nước giá trị còn lại là 1.055.000 đồng; Sân bê tông làm năm 2007 giá trị còn lại là 900.000 đồng; Sân gạch đá hoa giá trị còn lại là 1.000.000 đồng; 01 chuồng gà đã hết khấu hao.
Về cây cối hoa màu trên đất: 04 cây nhãn giá trị 400.000 đồng; 02 cây cau giá trị 100.000 đồng; 02 cây khế giá trị 200.000 đồng; 02 cây ổi giá trị 300.000 đồng; 01 cây bưởi giá trị 75.000 đồng; 01 cây hồng xiêm giá trị 75.000 đồng; 01 cây chanh giá trị 100.000 đồng; 02 cây hoè giá trị 150.000 đồng; 01 vườn rau thơm và cây đỗ 8.500 đồng/01m² x 20 m² = 170.000 đồng.
Về đồ dùng sinh hoạt trong gia đình gồm: 01 bộ bàn ghế gỗ (04 ghế, 01 bàn và 02 kệ) mua năm 2017 giá mua là 17.000.000 đồng, giá trị còn lại 6.000.000 đồng; 01 ti vi nhãn hiệu Panasonic mua năm 2018 giá mua là 8.500.000 đồng, giá trị còn lại là 1.800.000 đồng; 01 dàn loa mua năm 2018 giá mua là 4.500.000 đồng, giá trị còn lại là 1.000.000 đồng; 01 tủ lạnh Sharp mua năm 2020 giá mua là 4.800.000 đồng giá trị còn lại là 1.500.000 đồng; 01 máy giặt LG mua năm 2021 giá mua là 8.000.000 đồng, giá trị còn lại là 3.000.000 đồng; 01 giường và 01 tủ đã cũ các đương sự không nhớ năm mua và giá trị lúc mua, giá trị còn lại là 2.000.000 đồng; 01 gương giá mua là 700.000 đồng giá trị còn lại là 150.000 đồng; 01 xe máy nhãn hiệu Wave biển kiểm soát 17B8-18642 mang tên anh Vũ Văn T, giá trị còn lại là 5.000.000 đồng
Tại biên bản lấy lời khai của các cháu Vũ Thị Lan A và cháu Vũ Văn T2 vào ngày 17/4/2024: cháu Lan A có nguyện vọng xin được ở cùng chị H, cháu T2 có nguyện vọng xin ở cùng anh T.
Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số 01/2024/QĐ-SCBSBA ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 59 và Điều 62 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị H được ly hôn anh Vũ Văn T.
- Về quan hệ con chung: Giao cho chị Trịnh Thị H trực tiếp nuôi con Vũ Thị Lan A, sinh ngày 18/02/2013; giao cho anh Vũ Văn T trực tiếp nuôi con Vũ Văn T2, sinh ngày 20/7/2011, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.
Anh Vũ Văn T và chị Trịnh Thị H có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung.
- Về quan hệ tài sản chung:
Chia cho anh Vũ Văn T được quyền sử dụng 210 m² đất (trong đó có 150 m² đất ở và 60 m² đất vườn tạp) tại thửa đất số 258, tờ bản đồ số 01 tại thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. Đất đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Thái Bình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00202 QSDĐ/2712/QĐ-UB ngày 20/6/2004 mang tên ông Vũ Văn T và bà Trịnh Thị H có giá trị là 165.240.000 đồng trên đất có các tài sản sau: 01 nhà mái bằng xây dựng năm 2007 có cầu thang chờ lên tầng 2, diện tích 60 m² giá trị còn lại là 96.000.000 đồng; Nhà phụ xây năm 2015 diện tích là 24,6 m², giá trị còn lại là 78.720.000 đồng; Mái tôn xây năm 2022 giá trị còn lại là 4.970.000 đồng; 01 bể nước giá trị còn lại là 1.055.000 đồng; Sân bê tông làm năm 2007 giá trị còn lại là 900.000 đồng; Sân gạch đá hoa giá trị còn lại là 1.000.000 đồng.
Giao cho anh T sử hữu toàn bộ các đồ dùng sinh hoạt trong gia đình gồm: 01 bộ bàn ghế gỗ (04 ghế, 01 bàn và 02 kệ), 01 ti vi nhãn hiệu Panasonic, 01 dàn loa, 01 tủ lạnh Sharp, 01 máy giặt LG, 01 giường và 01 tủ đã cũ, 01 gương và 01 xe máy nhãn hiệu Wave biển kiểm soát 17B8-18642 mang tên anh Vũ Văn T.
Chia cho chị Trịnh Thị H được quyền sử dụng 210 m² đất (trong đó có 150 m² đất ở và 60 m² đất vườn tạp) tại thửa đất số 258, tờ bản đồ số 01 tại thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. Đất đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Thái Bình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00202 QSDĐ/2712/QĐ-UB ngày 20/6/2004 mang tên ông Vũ Văn T và bà Trịnh Thị H có giá trị là 165.240.000 đồng trên đất có các tài sản sau: 04 cây nhãn, 02 cây cau, 02 cây khế, 02 cây ổi, 01 cây bưởi, 01 cây hồng xiêm, 01 cây chanh, 02 cây hoè, 01 vườn trồng rau thơm, cây đỗ và 01 chuồng gà.
Buộc anh Vũ Văn T có nghĩa vụ thanh toán cho chị Trịnh Thị H ½ số tiền bồi thường giải phóng mặt bằng mà anh T đã nhận là 99.646.500 đồng (Chín mươi chín triệu sáu trăm bốn mươi sáu ngàn năm trăm đồng).
Anh Vũ Văn T và chị Trịnh Thị H có trách nhiệm làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
(Diện tích đất chia cho chị Trịnh Thị H được ký hiệu là S2 và tứ cận cụ thể của diện tích đất như sơ đồ phân chia kèm theo bản án).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất, quyền thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 26/9/2024, bị đơn - anh Vũ Văn T kháng cáo với nội dung: kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Vũ Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị đơn – anh Vũ Văn T gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định, anh Vũ Văn T đã thực hiện việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên yêu cầu kháng cáo là hợp lệ, được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- [2] Xét kháng cáo của anh Vũ Văn T:
- [2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Trịnh Thị H và anh Vũ Văn T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ (nay là xã Đ), huyện T, tỉnh Thái Bình vào ngày 20/10/2001 là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau không có hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đánh chửi nhau. Mâu thuẫn của hai vợ chồng ngày càng trầm trọng nên từ ngày 17/7/2023 (âm lịch) đến nay, chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, không chung sống cùng anh T nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể quay lại chung sống cùng nhau được nữa nên chị H đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Nguyện vọng của anh T là xin đoàn tụ để cùng nuôi dạy con cái nhưng nếu chị H quyết tâm ly hôn thì anh cũng đồng ý. Như vậy xác định tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của chị H, xử cho chị H được ly hôn anh T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- [2.2] Về quan hệ con chung:
Vợ chồng anh T và chị H có 03 con chung là Vũ Văn T1, sinh ngày 27/7/2002; Vũ Văn T2, sinh ngày 20/7/2011 và Vũ Thị Lan A, sinh ngày 18/02/2013. Đối với con T1 đã trưởng thành, trên 18 tuổi nên Toà án không đặt ra giải quyết. Đối với con T2 và Lan A, chị H xin được nuôi cả 02 con và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cho chị hàng tháng là 3.000.000 đồng/01 tháng/02 con, nếu không được nuôi cả 02 con thì chị xin nuôi con Lan A và nhường con T2 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai. Xét con Lan A có nguyện vọng xin ở cùng chị H, con T2 có nguyện vọng xin ở cùng anh T. Xét thực tế, con Lan A là con gái, ít tuổi hơn con T2 và hiện đang ở cùng chị H, con T2 là con trai và hiện đang ở cùng anh T, do đó để phù hợp với nguyện vọng của các con, tránh xáo trộn cuộc sống của các con và thuận lợi cho việc chăm sóc giáo dục các con, Toà án cấp sơ thẩm đã giao con T2 cho anh T nuôi dưỡng và giao con Lan A cho chị H nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai là phù hợp với quy định tại Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình.
- [2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung vợ chồng:
Về nợ chung: Cả anh T và chị H đều xác nhận vợ chồng anh chị không có nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về quan hệ tài sản chung: Cả anh T và chị H đều xác nhận vợ chồng có các tài sản sau:
- + Tiền Nhà nước đền bù đối việc thu hồi đất 02 lúa của hai vợ chồng được 199.293.000 đồng vào khoảng tháng 9 năm 2023, hiện nay số tiền này đang do anh T quản lý.
- + Quyền sử dụng diện tích đất 420 m² tại thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình, đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Vũ Văn T và chị Trịnh Thị H vào năm 2004.
- + Toàn bộ công trình xây dựng trên 420 m² đất gồm: 01 nhà mái bằng và công trình phụ 01 tầng, sân, mái tôn, bể nước.
- + Các cây cối trồng trên đất: 04 cây nhãn, 02 cây cau, 02 cây khế, 02 cây ổi, 01 cây bưởi, 01 cây hồng xiêm, 01 cây chanh, 02 cây hoè và 01 vườn trồng rau thơm và cây đỗ.
- + Các đồ dùng sinh hoạt trong gia đình: 01 bộ bàn ghế, 01 tivi Panasonic, 01 dàn loa, 01 tủ lạnh Sharp, 01 máy giặt LG, 01 xe máy Wave, 02 giường.
Toà án xác định các tài sản nói trên là tài sản chung của vợ chồng anh T chị H. Tuy nhiên, chị H chỉ yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng gồm: Số tiền đền bù 199.293.000 đồng và quyền sử dụng 420 m² đất và công trình xây dựng trên đất mỗi người một nửa, chị nhường phần đất có các công trình xây dựng trên đất cho anh T sở hữu, sử dụng còn chị sẽ sử dụng phần đất không có công trình trên đất, chị không yêu cầu anh T phải thanh toán chênh lệch về giá trị tài sản cho chị. Đối với toàn bộ số đồ dùng sinh hoạt trong gia đình, xe máy và hoa màu trồng trên đất chị không yêu cầu Toà án chia. Chị nhường toàn bộ số đồ dùng sinh hoạt trong gia đình, xe máy cho anh T sở hữu, hoa màu trồng trên đất sau này phần đất đó chia cho ai thì người đó hưởng.
Anh T có nguyện vọng để lại nhà và đất cho các con nên không yêu cầu chia tài sản chung.
Như vậy, xác định tài sản chung của vợ chồng anh T chị H có yêu cầu chia là số tiền được đền bù giải phóng mặt bằng 199.293.000 đồng và quyền sử dụng 420 m² đất và công trình xây dựng trên đất.
Căn cứ Điều 59 Luật Hôn nhân gia đình khối tài sản này được chia đôi cho anh T và chị H mỗi người một nửa = [(½ x 199.293.000 đồng) + (½ x 300m² đất ở) + (½ x 120 m² đất vườn tạp)] = 99.646.500 đồng + 150 m² đất ở + 60m² đất vườn tạp và có giá trị 264.886.500 đồng.
Nguyện vọng của chị H, chị nhường phần đất có các công trình xây dựng trên đất cho anh T quản lý, sử dụng còn chị sẽ quản lý, sử dụng phần đất không có công trình trên đất và chị không yêu cầu anh T phải thanh toán chênh lệch về giá trị tài sản cho chị. Hiện tại, anh T đang quản lý và sử dụng toàn bộ các công trình xây trên đất nên cần chia cho anh T phần đất có các công trình xây dựng trên đất có giá trị là 347.885.000 đồng, chia cho chị H phần đất không có công trình xây dựng trên đất có giá trị 165.240.000 đồng. Chị H không yêu cầu anh T phải thanh toán giá trị chênh lệch về tài sản cho chị nên anh T không phải thanh toán giá trị chênh lệch về tài sản cho chị H.
Đối với toàn bộ số đồ dùng sinh hoạt trong gia đình anh T quản lý, sử dụng và hoa màu trên đất, chị H không yêu cầu Toà án chia mà nhường anh T sở hữu, hoa màu trồng trên phần đất chia cho ai thì người đó hưởng nên cần chấp nhận.
Đối với số tiền 199.293.000 đồng anh T đang quản lý và thừa nhận là tiền đền bù diện tích ruộng của hai vợ chồng, chị H yêu cầu chia đôi và anh T cũng đồng ý nên anh T phải có trách nhiệm thanh toán lại cho chị H một nửa là 99.646.500 đồng.
- [2.4] Về án phí và chi phí tố tụng:
Về chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm chị H tự nguyện chịu toàn bộ và chị H đã nộp xong.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, án phí về chia tài sản chung vợ chồng là 5% giá trị tài sản được chia là 5% x (99.646.500 đồng + 166.810.000 đồng) = 13.322.825 đồng, đối trừ số tiền 25.300.000 đồng chị H đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0002570 ngày 15/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, còn phải nộp 11.677.175 đồng; anh T phải chịu án phí về chia tài sản chung là 20.000.000 đồng + (4% x 67.981.500 đồng) = 22.719.260 đồng.
Là phù hợp với điểm a, b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
- [3] Từ những phân tích, đánh giá trên đây, Hội đồng xét xử thấy:
Không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của anh Vũ Văn T, giữ nguyên quyết định của Bản án số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- [4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- [5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- [1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Vũ Văn T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 59 và Điều 62 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- [1.1] Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị H được ly hôn anh Vũ Văn T.
- [1.2] Về quan hệ con chung: Giao cho chị Trịnh Thị H trực tiếp nuôi con Vũ Thị Lan A, sinh ngày 18/02/2013; giao cho anh Vũ Văn T trực tiếp nuôi con Vũ Văn T2, sinh ngày 20/7/2011, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.
Anh Vũ Văn T và chị Trịnh Thị H có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung.
- [1.3] Về quan hệ tài sản chung: Chia cho anh Vũ Văn T được quyền sử dụng 210 m² đất (trong đó có 150 m² đất ở và 60 m² đất vườn tạp) tại thửa đất số 258, tờ bản đồ số 01 tại thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. Đất đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Thái Bình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00202 QSDĐ/2712/QĐ-UB ngày 20/6/2004 mang tên ông Vũ Văn T và bà Trịnh Thị H có giá trị là 165.240.000 đồng, trên đất có các tài sản sau: 01 nhà mái bằng xây dựng năm 2007 có cầu thang chờ lên tầng 2, diện tích 60 m² giá trị còn lại là 96.000.000 đồng; Nhà phụ xây năm 2015 diện tích là 24,6 m², giá trị còn lại là 78.720.000 đồng; Mái tôn xây năm 2022 giá trị còn lại là 4.970.000 đồng; 01 bể nước giá trị còn lại là 1.055.000 đồng; Sân bê tông làm năm 2007 giá trị còn lại là 900.000 đồng; Sân gạch đá hoa giá trị còn lại là 1.000.000 đồng.
(Diện tích đất chia cho anh Vũ Văn T được ký hiệu là S1 và tứ cận cụ thể của diện tích đất như sơ đồ phân chia kèm theo bản án).
Giao cho anh T sử hữu toàn bộ các đồ dùng sinh hoạt trong gia đình gồm: 01 bộ bàn ghế gỗ (04 ghế, 01 bàn và 02 kệ), 01 ti vi nhãn hiệu Panasonic, 01 dàn loa, 01 tủ lạnh Sharp, 01 máy giặt LG, 01 giường và 01 tủ đã cũ, 01 gương và 01 xe máy nhãn hiệu Wave biển kiểm soát 17B8-18642 mang tên anh Vũ Văn T.
Chia cho chị Trịnh Thị H được quyền sử dụng 210 m² đất (trong đó có 150 m² đất ở và 60 m² đất vườn tạp) tại thửa đất số 258, tờ bản đồ số 01 tại thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. Đất đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Thái Bình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00202 QSDĐ/2712/QĐ-UB ngày 20/6/2004 mang tên ông Vũ Văn T và bà Trịnh Thị H có giá trị là 165.240.000 đồng trên đất có các tài sản sau: 04 cây nhãn, 02 cây cau, 02 cây khế, 02 cây ổi, 01 cây bưởi, 01 cây hồng xiêm, 01 cây chanh, 02 cây hoè, 01 vườn trồng rau thơm, cây đỗ và 01 chuồng gà.
(Diện tích đất chia cho chị Trịnh Thị H được ký hiệu là S2 và tứ cận cụ thể của diện tích đất như sơ đồ phân chia kèm theo bản án).
Anh Vũ Văn T và chị Trịnh Thị H có trách nhiệm làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Buộc anh Vũ Văn T có nghĩa vụ thanh toán cho chị Trịnh Thị H ½ số tiền bồi thường giải phóng mặt bằng mà anh T đã nhận là 99.646.500 đồng (Chín mươi chín triệu sáu trăm bốn mươi sáu ngàn năm trăm đồng).
Kể từ bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người có nghĩa vụ không thanh toán số tiền trên thì hàng tháng phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do ngân hàng N công bố tương ướng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
- [1.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trịnh Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 13.322.825 đồng (Mười ba triệu ba trăm hai mươi hai nghìn tám trăm hai mươi lăm đồng) tiền án phí về chia tài sản chung vợ chồng. Đối trừ số tiền 25.300.000 đồng (Hai mươi lăm triệu ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0002570 ngày 15/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, còn lại 11.677.175 đồng (Mười một triệu sáu trăm bảy mươi bảy nghìn một trăm bảy mươi lăm đồng) trả lại cho chị H. Anh Vũ Văn T phải chịu 22.719.260 đồng (Hai mươi hai triệu bảy trăm mười chín nghìn hai trăm sáu mươi đồng) tiền án phí về chia tài sản chung vợ chồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- [2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Anh Vũ Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm anh T đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 2750 ngày 02/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.
- [3] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 13/02/2025./.
Nơi nhận:
- - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
- - Tòa án, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình;
- - Các đương sự;
- - Uỷ ban nhân dân xã Đông Trà, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình;
- - Lưu hồ sơ vụ án;
- - Lưu HC-TP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thúy Hoàn
Bản án số 03/2025/HNGĐ-PT ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 03/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Thị H - Vũ Văn T "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
