Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/DS-ST

Ngày: 13/02/2025.

“V/v Tranh chấp ranh giới

quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Minh Tân.

2. Bà Nguyễn Thùy Trang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Thiên Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Trần Cao Lâm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13/02/2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 181/2023/TLST-DS ngày 07/11/2023 về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-DS ngày 16/01/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: 1. Trần Hữu B, sinh năm 1979 (có mặt).

2. Chế Thị Hồng N, sinh năm 1984 (có mặt).

Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Trần Hữu B: Luật sư Võ Thành N1 – Văn phòng Luật sư Võ Thành N1 thuộc đoàn luật sư tỉnh Đ; Điện thoại: 0908.525.xxx (có mặt).

Địa chỉ: số A, Quốc lộ H, ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Phạm Kim P, sinh năm 1974 (có mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Trần Hữu B, chị Chế Thị Hồng N cùng trình bày:

Anh Trần Hữu B, chị Chế Thị Hồng N nhận tặng cho thửa đất số 929, 930 từ anh Chế Thanh B1 vào ngày 07/4/2008; Đất tại: ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, khi nhận tặng cho thì nhận trọn thửa nên không đo đạc thực tế nhưng mốc giới, kích thước, diện tích đất đã có trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp, đồng thời khi anh Chế Thanh B1 nhận chuyển nhượng từ ông Phạm Văn T đã có đo đạc và có Biên bản đo đạc thực tế số 34 ngày 16/12/2005 theo Biên bản đo đạc diện tích thửa 929 là 188m²; thửa 930 là 29m². Sau khi nhận tặng cho anh Hữu B, chị N vào đất thì thấy thửa đất số 929, 930 không như hiện trạng ban đầu nên nghi ngờ bà Phạm Kim P lấn ranh đất.

Theo đơn khởi kiện anh Trần Hữu B, chị Chế Thị Hồng N yêu cầu bà Phạm Kim P trả lại diện tích bị lấn chiếm ngang 01m, dài 40m, diện tích 40m². Đất tại: ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Qua đo đạc thực tế anh Hữu B, chị N thay đổi ý kiến và yêu cầu thể hiện diện tích thửa đất số 929, 930 có diện tích tổng cộng là 217m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Theo sơ đồ đo đạc ngày 29/8/2024 diện tích thửa đất số 929, diện tích 188m², thể hiện qua các mốc A, 22, 23, 24, 25, 26, B, A; Thửa đất số 930, diện tích 29m² thể hiện qua các mốc A, B, C, 27, A trên sơ đồ đo đạc ngày 29/8/2024 nhưng các cạnh 02 thửa đất có khác so với Biên bản đo đạc xác định ranh đất ngày 16/12/2005 thì anh Hữu B, chị N thống nhất.

Anh Trần Hữu B, chị Chế Thị Hồng N thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu xác định lại ranh đất giữa thửa đất số 929, 930 và thửa đất số 415a, 415b của bà Phạm Kim P là đường thẳng nối các mốc 26, B, C, E, 27 trên sơ đồ đo đạc ngày 29/8/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

Phần tài sản của anh Hữu B, chị N trên thửa đất số số 415a, 415b của bà P. Anh B, chị N đồng ý tự nguyện di dời không yêu cầu định giá lại, không yêu cầu bà P trả giá trị.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Trần Hữu B: Luật sư Võ Thành N1 thống nhất theo lới trình bày của anh Trần Hữu B không có ý kiến trình bày gì thêm.

Theo lời khai và tại phiên tòa bị đơn bà Phạm Kim P trình bày:

Thửa đất số 415a, 415b bà Phạm Kim P nhận tặng cho từ ông Phạm Văn T vào ngày 07/4/2008 và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/7/2008 cho cá nhân bà Phạm Kim P, khi nhận tặng cho thì không đo đạc thực tế, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích thửa đất số 415a, diện tích 955m²; thửa đất số 415b, diện tích 201m². Giáp ranh với bà P là thửa đất số 929, 930 của anh Trần

2

Hữu B, chị Chế Thị Hồng N, quá trình sử dụng thì anh B, chị N có lấn qua thửa đất số 415a, 415b. Trong quá trình giải quyết vụ án bà P yêu cầu thể hiện đúng theo diện tích thửa 929, 930 đúng theo diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 217m² tuy nhiên khi thể hiện diện tích thửa 929, diện tích 188m² qua các mốc A, 22, 23, 24, 25, 26, B, A; Diện tích thửa đất số 930, diện tích 29m² qua các mốc A, B, C, 27, A tổng diện tích 217m² bà P không thống nhất. Do xác định như vậy thì có diện tích đất 6,9m² thể hiện qua các mốc F, 2, 29, B, C, E, F do bà P đang quản lý sử dụng (phần đất này trống).

Đối với diện tích đất anh Hữu B, chị N đang quản lý sử dụng phía sau thể hiện qua các mốc E, D, 3, 21, 27, E là 10,3m² và diện tích 0,7m² thể hiện qua các mốc 29, 1, 26, 29 là anh Hữu B, chị N lấn qua bà P nên bà P yêu cầu anh Hữu B, chị N trả lại cho bà P. Về tài sản của anh Hữu B, chị N trên diện tích đất này anh Hữu B, chị N tự di dời bà P không đồng ý trả giá trị, bà P không yêu cầu Tòa án định giá lại.

Bà Phạm Kim P không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của anh Hữu B, chị N về yêu cầu xác định ranh đất giữa thửa đất số 929, 930 của anh Hữu B, chị N và thửa đất số 415a, 415b của bà P là đường thẳng nối các mốc 26, B, C, E, 27 trên sơ đồ đo đạc ngày 29/8/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

Bà Phạm Kim P yêu cầu xác định ranh đất giữa thửa đất số 929, 930 của anh Hữu B, chị N và thửa đất số 415a, 415b của bà P là đường thẳng nối các mốc 26, 29, 2, F, E, 27 trên sơ đồ đo đạc ngày 29/8/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn, bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Trần Hữu B đã đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử theo hướng:

+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Hữu B, chị Chế Thị Hồng N về việc yêu cầu xác định ranh đất giữa thửa đất số 929, 930 của anh Hữu B, chị N và thửa đất số 415a, 415b của bà P là đường thẳng nối các mốc 26, B, C, E, 27 trên sơ đồ đo đạc ngày 29/8/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 929, 930 và thửa 415a, 415b được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không gian. Tài sản của các bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật.

+ Không chấp nhận ý kiến của bà P yêu cầu xác định ranh đất giữa thửa đất số 929, 930 của anh Hữu B, chị N và thửa đất số 415a, 415b của bà P là đường thẳng nối

3

các mốc 26, 29, 2, F, E, 27 trên sơ đồ đo đạc ngày 29/8/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

+ Về án phí: Anh Trần Hữu B, chị Chế Thị Hồng N tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm nên ghi nhận.

+ Chi phí xem xét thẩm định tại chổ và định giá tài sản: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Anh B, chị P yêu cầu xác định lại ranh giới quyền sử dụng đất thửa đất số 929, 930 và thửa 415a, 415b. Đất tranh chấp tại: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, 235, 236 Luật Đất đai năm 2024; Điều 166, 175, 176 Bộ luật Dân sự. Hội đồng xét xử xác định đây là “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất” và vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến của bị đơn.

[2.1] Anh Hữu B, chị N yêu cầu xác định lại ranh giới đất giữa đất số 929, 930 và thửa 415a, 415b là đường thẳng nối các mốc 26, B, C, E, 27 trên sơ đồ đo đạc ngày 29/8/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

Hội đồng xét xử xét thấy: Khi anh Chế Thanh B1 nhận chuyển nhượng thửa đất số 929, 930 của cha Phạm Văn T (cha ruột của bà Phạm Kim P) thì có đo đạc thực tế bằng Biên bản đo đạc xác định ranh đất số 34 ngày 16/12/2005 có ông Phạm Văn T ký giáp ranh lúc này trong biên bản xác định ranh đất có nêu cụ thể diện tích thửa 929, diện tích 188m²; Thửa 930, diện tích 29m². Căn cứ vào biên bản đo đạc số 34 ngày 16/12/2005 anh Chế Thanh B1, chị Võ Thị Thu V được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 929, diện tích 188m², thửa 930, diện tích 29m². Khi anh Chế Thanh B1, chị V tặng cho anh Hữu B, chị N thửa đất số 929, 930 vào ngày 07/4/2008 thì dựa vào diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp mà không đo đạc thực tế.

Các thửa đất số 415a, 415b bà Phạm Kim P nhận tặng cho từ ông Phạm Văn T vào năm 07/4/2008 và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/7/2008 thì không đo đạc thực tế. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà P được cấp diện tích thửa đất số 415a, diện tích 955m²; Thửa đất số 415b, diện tích 201m² tổng diện tích 02 thửa 415a, 415b là 1.156m².

[2.2] Theo sơ đồ đo đạc thực tế ngày 29/08/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C thửa đất số 929, diện tích 188m² thể hiện qua các mốc A, 22, 23, 24, 25, 26, B, A; Thửa 930 diện tích 29m² thể hiện qua các mốc A, B, C 27, A. Anh Hữu B, chị N thống nhất với sơ đồ đo đạc và yêu cầu xác định ranh đất giữa

4

đất số 929, 930 và thửa 415a, 415b là đường thẳng nối các mốc 26, B, C, E, 27 trên sơ đồ đo đạc ngày 29/8/2024. Tuy nhiên bà Phạm Kim P không thống nhất.

Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án anh B, chị N và bà P đều có yêu cầu thể hiện đúng diện tích thửa đất số 929, diện tích là 188m², thửa 930 là 29m² tổng cộng 02 thửa là 217m² đây là tình tiết các bên thừa nhận không cần phải chứng minh. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà Phạm Kim P được cấp thửa 415a, 415b có tổng diện tích là 1.156m². Qua đo đạc thực tế chưa tính phần đất tranh chấp thì tổng diện tích thửa đất số 415a, 415b đã là 1.215m² dư 59m² so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Mặc dù, khi thể hiện diện tích thửa 929, 930 là 217m² đúng như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp, thì độ dài các cạnh của thửa 929, 930 trên sơ đồ đo đạc có khác tuy nhiên theo Công văn số 4958/UBND-NC ngày 22/11/2024 của UBND huyện C trả lời “...Hình thể thửa đất đã cấp không còn phù hợp với hiện trạng khu đo do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai Huyện lập...” và “…………Kích thước tranh chấp nhỏ dưới 5m ngoài thực địa nên không thể xác định thuộc thửa nào...”. Ngoài ra, khi xác định ranh giới thửa đất số 929, 930 và thửa đất số 415a, 415b là đoạn thẳng nối các mốc 26, 29, 2, F, E, 27 như bà P trình bày thì diện tích thửa đất số 929 thiếu 4,8m²; Thửa 930 thiếu 2,1m² (tổng cộng là 6,9m²) là chưa phù hợp với ý kiến, yêu cầu thể hiện đúng diện tích thửa 929, 930 của anh B, chị N và bà P.

Từ các lập luận nêu trên anh B, chị N yêu cầu xác định lại ranh đất giữa đất số 929, 930 và thửa 415a, 415b là đường thẳng nối các mốc 26, B, C, E, 27 trên sơ đồ đo đạc ngày 29/8/2024 thì tổng diện tích thửa đất số 929, 930 đúng là 217m² là có cơ sở để chấp nhận. Bà Phạm Kim P yêu cầu xác định ranh đất giữa thửa đất số 929, 930 và thửa 415a, 415b là đoạn thẳng nối các mốc 26, 29, 2, F, E, 27 trên sơ đồ đo đạc ngày 29/8/2024 thì diện tích thửa 930 là 24,2m² và thửa 929 diện tích là 185,9m² tổng diện tích 02 thửa đất chỉ là 210,1m² (thiếu 6,9m²) là chưa phù hợp, Đồng thời, bà P cũng không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh ranh đất 929, 930 và thửa 415a, 415b là đoạn thẳng nối các mốc 26, 29, 2, F, E, 27 trên sơ đồ đo đạc ngày 29/8/2024. Do đó, lời trình bày của bà Phạm Kim P là không có cơ sở để chấp nhận.

[2.3] Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 929, 930 của anh Hữu B, chị N và thửa 415a, 415b của bà P được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không gian. Tài sản của các bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật.

[3] Trong quá trình sử dụng anh Hữu B, chị N có xây dựng bức tường ngoài diện tích 217m² như lập luận tại mục [2.2] phần tường xây ngoài diện tích 217m² thể hiện qua các mốc 1, 29, 2 và E, D, 3 anh Hữu B, chị N đồng ý tự tháo dở, di dời, không yêu cầu bà P trả giá trị. Bà P yêu cầu anh Hữu B, chị N đi dời không đồng ý trả giá trị. Hội đồng xét xử, xét thấy đây là sự tự nguyện của anh Hữu B, chị N phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[4] Về án phí: Anh Trần Hữu B, chị Chế Thị Hồng N tự nguyện chịu toàn bộ án

5

phí dân sự sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[5] Về chi phí tố tụng khác: Do yêu cầu của anh B, chị N được chấp nhận. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng đất anh Hữu B, chị N có lỗi chưa xác định ranh đất, đã xây dựng bức tường có một phần qua thửa 415a, 415b của bà P. Căn cứ và các Điều 157, 158, 165, 166 Bộ luật Tố tụng dân sự, mỗi bên phải chịu ½ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

Tổng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 4.343.000 đồng (trong đó chi phí đo đạc là 3.143.000 đồng, chi phí định giá tài sản là 1.200.000 đồng). Số tiền tạm ứng chi phí tố tụng anh Hữu B đã nộp tạm ứng là 4.343.000 đồng được trừ vào chi phí tố tụng anh Hữu B, chị N phải chịu 2.171.500 đồng.

Bà Phạm Kim P phải trả cho anh Trần Hữu B, chị Chế Thị Hồng N số tiền 2.171.500 đồng.

[6] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh B yêu cầu xác định ranh đất thửa 929, 930 của anh Hữu B, chị N và thửa 415a, 415b của bà P là đường thẳng nối các mốc 26, B, C, E, 27 trên sơ đồ đo đạc ngày 29/8/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C là phù hợp nên chấp nhận.

[7] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 157, 158, 165, 166, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 26, 235, 236 Luật Đất đai năm 2024;

Căn cứ vào Điều 166, 175, 176 Bộ luật Dân sự;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Hữu B, chị Chế Thị Hồng N về việc yêu cầu xác định ranh đất giữa thửa đất số 929, 930 của anh Hữu B, chị N và thửa 415a, 415b của bà P.

Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 929, 930, cùng tờ bản đồ số 4a của anh Trần Hữu B, chị Chế Thị Hồng N và thửa 415a, 415b, cùng tờ bản đồ số 4a của bà Phạm Kim P là đường thẳng nối các mốc 26, B, C, E, 27 trên sơ đồ đo đạc ngày 29/8/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

6

Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 929, 930, cùng tờ bản đồ số 4a của anh Trần Hữu B, chị Chế Thị Hồng N và thửa 415a, 415b, cùng tờ bản đồ số 4a của bà Phạm Kim P được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không gian. Tài sản của các bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật.

(Kèm theo bản án là sơ đồ đo đạc ngày 29/8/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C; Biên bản xem xét thẩm định tại chổ và Biên bản định giá tài sản 13/12/2023).

2. Về án phí: Anh Trần Hữu B, chị Chế Thị Hồng N tự nguyện chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Số tiền tạm ứng án phí anh Trần Hữu B, chị Chế Thị Hồng N đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002035 ngày 06/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành được trừ vào án phí anh Trần Hữu B, chị Chế Thị Hồng N phải chịu (anh Hữu B, chị N đã nộp xong án phí).

3. Về chi phí tố tụng khác:

Anh Trần Hữu B, chị Chế Thị Hồng N liên đới chịu 2.171.500 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Số tiền tạm ứng chi phí tố tụng anh Trần Hữu B, chị Chế Thị Hồng N đã nộp là 4.343.000 đồng được trừ vào chi phí tố tụng anh B, chị N phải chịu.

Bà Phạm Kim P phải trả cho anh Trần Hữu B, chị Chế Thị Hồng N số tiền 2.171.500 đồng.

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành;
  • - Lưu hồ sơ vụ án. (Nhân)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Nhân

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/DS-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 03/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger