|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 07-02-2025
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thị Luyến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trường Ca và bà Vũ Thị Linh
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Giao – Thẩm tra viên Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân thành phố Chí Linh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 296/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Chị Tạ Thị N, sinh năm 1986;
HKTT: KDC T, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương
Địa chỉ: Ngã ba A, thị trấn T, huyện A, thành phố Hải Phòng
Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1980;
HKTT: KDC T, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương;
Địa chỉ: KDC K, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Chị N và anh T đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn và bị đơn đều trình bày:
Chị Tạ Thị N và anh Trần Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 28/8/2008 tại UBND xã C, huyện C (nay là phường C, thành phố C), tỉnh Hải Dương. Vợ chồng chung sống với nhau ban đầu hạnh phúc sau đó do vợ chồng không có cùng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra cãi nhau, cuộc sống không có hạnh phúc. Vợ chồng ly thân từ năm 2023 đến nay. Chị N xác định không còn tình cảm và đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn. Còn anh T vẫn mong muốn vợ chồng về đoàn tụ, nhưng chị N vẫn cương quyết ly hôn thì anh đồng ý.
Về con chung: Chị N và anh T đều trình bày có 02 con chung là Trần Tạ Gia B, sinh ngày 31/5/2009 và Trần Tạ Gia C, sinh ngày 27/10/2012. Hiện nay, các cháu đang ở cùng anh T. Nay ly hôn, chị N và anh T đều thống nhất anh T sẽ nuôi dưỡng cả 02 con chung, nhưng không thống nhất về mức cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị N sẽ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T, mỗi tháng là 2.500.000đ/01 con chung, kể từ tháng 01/2025 đến khi các con chung đủ 18 tuổi, phương thức cấp dưỡng vào ngày 10 hàng tháng, bằng hình thức chuyển khoản. Kể từ năm 2023, chị N là người đóng tiền học cho con, cả học chính, học thêm của các con, mỗi năm khoảng 14.000.000đ/01 con chung và chị chuyển tiền nuôi con chi phí sinh hoạt của các con cho anh T mỗi tháng là 5.000.000đ/02con chung. Ngoài ra, nếu thấy cần thiết thì chị có thể cho con chị riêng hoặc sẽ đưa cho anh T nuôi con thêm sau.
Anh T yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là: 2.500.000đ/01 con chung và đóng học cho 02 con tại trường hàng năm theo quy định của nhà trường, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, cấp dưỡng theo tháng và vào ngày mùng 10 hàng tháng bằng hình thức chuyển khoản. Chị N là người đóng tiền học cho con, nên anh không biết mỗi năm mỗi con chung hết bao nhiêu tiền đóng học cho con. Còn anh chi tiêu sinh hoạt cho mỗi con chung mỗi tháng là 4.000.000đ/01 cháu.
Về quan hệ tài sản: Chị N và anh T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị N tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của cháu Trần Tạ Gia B và Trần Tạ Gia C đều có nguyện vọng được tiếp tục ở với bố là anh T.
Bà Ngô Thị L trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh T, còn chị N là vợ anh T, tức là con dâu bà. Quá trình vợ chồng anh T, chị N chung sống ban đầu hạnh phúc, cho đến năm 2023 khi chị N lao động ở nước ngoài về thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do chị N chê anh T không làm ra tiền, chị N đi làm ở Hải Phòng, chỉ thi thoảng mới về nhà. Gia đình đã động viên anh chị nhưng đến nay anh chị có ở với nhau được hay không do anh chị tự quyết định. Về con chung: Anh T chị N có 02 con chung là cháu Trần Tạ Gia B, sinh ngày 31/5/2009 và Trần Tạ Gia C, sinh ngày 27/10/2012 đang ở cùng anh T. Hai cháu có nói với bà nguyện vọng ở với bố và ông bà nội. Nếu anh T được nuôi dưỡng hai cháu thì gia đình bà vẫn tiếp tục hỗ trợ anh T trông nom, chăm sóc các cháu. Hiện nay các cháu đang ở nhà 03 tầng, rộng rãi đảm bảo, anh T đi làm thuê 1 tháng thu nhập 10.000.000đ/1 tháng đủ điều kiện kinh tế để nuôi con.
Tại phiên toà sơ thẩm: Nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt, đều có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh trình bày việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký trong quá trình thu thập chứng cứ, người tiến hành tố tụng tại phiên toà chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình; Điều 3 Nghị định 74/2024/NĐ-CP30/6/2024; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật án phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị HĐXX:
- - Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thị N, cho chị N được ly hôn với anh Trần Văn T.
- - Về con chung: Giao 02 con chung là Trần Tạ Gia B, sinh ngày 31/5/2009 và Trần Tạ Gia C, sinh ngày 27/10/2012 cho anh T nuôi dưỡng đến khi 18 tuổi hoặc khi có thay đổi khác. Chị N cấp dưỡng nuôi 02 con chung 5000.000đ/02 con chung/1 tháng, kể từ tháng 01/2025, phương thức cấp dưỡng vào ngày 15 hàng tháng.
- - Về tài sản chung: Không đề nghị giải quyết.
- - Án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và bị đơn anh T có hộ khẩu thường trú tại thành phố C, tỉnh Hải Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà, các đương sự đều vắng mặt lần thứ nhất, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt chị N, anh T.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Nga và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 28/8/2008 tại UBND phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương, xác nhận hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, chị N vẫn giữ nguyên quan điểm ly hôn, còn anh T mong muốn đoàn tụ, nhưng nếu chị N vẫn kiên quyết ly hôn thì anh T đồng ý. HXXX xét thấy, mâu thuẫn của chị N và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đã ly thân, nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị N ly hôn anh T.
[3] Về quan hệ con chung:
[3.1] Chị Tạ Thị N và anh Trần Văn T đều thoả thuận và thống nhất: Giao cho anh Trần Văn T tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là Trần Tạ Gia B, sinh ngày 31/5/2009 và Trần Tạ Gia C, sinh ngày 27/10/2012 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Xét nguyện vọng của các bên về giao nuôi con là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của 02 con chung, nên tiếp tục giao 02 con chung là Trần Tạ Gia B và Trần Tạ Gia C cho anh T được tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
[3.2] Xét yêu cầu cấp dưỡng của anh T là 2.500.000đ/01 con chung và đóng học cho 02 con tại trường hàng năm theo quy định của nhà trường cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, cấp dưỡng theo tháng và vào ngày mùng 10 hàng tháng bằng hình thức chuyển khoản, anh T không cung cấp tài liệu nào khác thì chị N không đồng ý với mức cấp dưỡng của anh T, còn đồng ý với việc cấp dưỡng nuôi con chung đến 18 tuổi, cấp dưỡng theo tháng và vào ngày mùng 10 hàng tháng bằng hình thức chuyển khoản. Quá trình giải quyết vụ án, chị N và anh T đều thừa nhận việc hàng tháng chị N chuyển cho anh T 5.000.000đ để anh T nuôi con, còn anh T là người chi tiêu sinh hoạt của con, chị N đóng học cho con, còn cụ thể mỗi người chi tiêu hết bao nhiêu thì người còn lại không biết, nhưng không xảy ra tranh chấp gì, các bên không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh. Xét thấy, căn cứ vào tình hình thực tế về việc nuôi con từ năm 2023 đến nay, thu nhập và khả năng kinh tế của chị N, anh T, việc cấp dưỡng của chị N vẫn ổn định, và mức chị N đưa ra là phù hợp với quy định tại Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao và Điều 3 Nghị định 74/2024/NĐ-CP30/6/2024 của Chính Phủ quy định về mức lương tối thiểu vùng: “...Chí L1 thuộc Vùng II, mức lương tối thiểu là 4.410.000đ/1 tháng”. Vì vậy, HĐXX không chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng của anh T là chị N phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung, mỗi con chung là 2.500.000đ/01 con chung và đóng học cho 02 con tại trường hàng năm theo quy định của nhà trường cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, chấp nhận mức cấp dưỡng tự nguyện của chị N cấp dưỡng nuôi 02 con chung, mỗi con chung là 2.500.000đ/tháng, thời gian kể từ tháng 01/2025 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác, cấp dưỡng hàng tháng vào ngày mùng 10, bằng hình thức chuyển khoản,
[4] Về quan hệ tài sản: Chị N và anh T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không giải quyết.
[5] Về án phí: Chi Nga tự nguyện chịu toàn bộ án phí sơ thẩm ly hôn và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật, nên HĐXX chấp nhận sự tự nguyện này.
[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình; Điều 3 Nghị định 74/2024/NĐ-CP30/6/2024 của Chính phủ ; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Tạ Thị N ly hôn anh Trần Văn T
- Về con chung: Giao cho anh Trần Văn T tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là Trần Tạ Gia B, sinh ngày 31/5/2009 và Trần Tạ Gia C, sinh ngày 27/10/2012 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Chị N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung, mỗi con là 2.500.000 đồng/tháng, thời gian kể từ tháng 01/2025 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Phương thức cấp dưỡng theo tháng, vào ngày mùng 10 hàng tháng, bằng hình thức chuyển khoản.
Chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên có nghĩa vụ không thanh toán thì phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
- Về tài sản: Không giải quyết.
- Về án phí: Chị Tạ Thị N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, nhưng được đối trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh theo biên lai số 0004133 ngày 05 tháng 8 năm 2024. Chị N còn phải thi hành 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Vũ Thị Luyến |
Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, con chung
