Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THUẬN NAM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 07-02-2025

V/v: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Khánh Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Thanh Yên và ông Phú Trần Anh Vương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam tham gia phiên toà: Bà Tài Thị Cao Sâm - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 139/2024/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13/01/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1998 (có mặt).

Trú tại: Thôn S, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

Bị đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm: 2001 (vắng mặt).

Trú tại: Thôn S, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày: Anh với chị Phạm Thị H tự nguyện tìm hiểu, yêu đương nhau nên đã tiến đến chung sống với nhau vào năm 2015 và đến năm 2019 thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống tại nhà cha mẹ anh ở thôn S, xã P, huyện T. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 xảy ra mâu thuẫn, do chị H không quan tâm chăm sóc con cái và còn ngoại tình. Hiện chị H đã bỏ địa phương đi từ nhiều năm nay không liên lạc về cho anh và các con, anh có liên lạc với chị H cũng không được. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị H.

- Về con chung: Anh với chị Phạm Thị H có 02 con chung tên Phạm Văn T1, sinh ngày 02/7/2017 và Phạm Bảo L, sinh ngày 09/10/2018. Vì trong lúc làm giấy khai sinh cho con, anh và chị H chưa đủ đăng ký kết hôn nên trong giấy khai sinh các con mang họ của chị H và không có tên cha trong đó. Anh xác định 02 con tên Phạm văn T1 và Phạm Bảo L là con chung của anh và chị H. Hiện 02 con đang sống cùng với anh, anh yêu cầu cầu được tiếp tục nuôi các con và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn: Chị Phạm Thị H trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện các thủ tục niêm yết hợp lệ nhưng chị H không đến Toà án và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không có lời trình bày.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, nuôi con với chị Phạm Thị H; chị Phạm Thị H có nơi cư trú tại thôn S, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam.

[2]. Về việc vắng mặt của bị đơn: Chị Phạm Thị H đã được Tòa án tiến hành niêm yết hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị H.

[3]. Về nội dung vụ án:

[3.1]. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T và chị Phạm Thị H chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 60, ngày 10/10/2019. Vì vậy, hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn T và chị Phạm Thị H là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.

[3.2]. Về tình trạng hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T cho rằng vợ chồng chung sống đến năm 2021 xảy ra mâu thuẫn do chị H không quan tâm chăm sóc còn cái và có quan hệ tình cảm nam nữ bên ngoài, hiện đã không còn sống chung với nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện các thủ tục niêm yết theo quy định nhưng chị H không đến Toà, cũng không có văn bản trình bày ý kiến nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét nguyện vọng của chị H. Tại biên bản xác minh, chính quyền địa phương cho biết chị H đã bỏ địa phương đi từ nhiều năm nay, anh T xác nhận từ ngày bỏ đi chị H không liên lạc về với anh và các con, anh có nhiều lần liên hệ với chị H nhưng cũng không được, điều này cho thấy chị H không có thiện chí hàn gắn quan hệ vợ chồng, vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cuộc sống chung của anh T và chị H không thể kéo dài, mục đích hôn nhận không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T, anh T được ly hôn chị H.

[3.3]. Về con chung: Anh Nguyễn Văn T xác nhận anh và chị H có 02 con chung tên Phạm Văn T1, sinh ngày 02/7/2017 và Phạm Bảo L, sinh ngày 09/10/2018. Hiện các con đang sống củng với anh, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi các con là phù hợp quy định pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của các con nên chấp nhận.

[3.4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn T2 tự nguyện không yêu cầu chị Phạm Thị H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam về việc giải quyết vụ án là phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[6]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quy ết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều: 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T được ly hôn chị Phạm Thị H.
  2. Về con chung: Giao 02 con chung chưa thành niên Nguyễn Văn T3, sinh ngày 02/7/2017 và Phạm Bảo L, sinh ngày 09/10/2018 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

    Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà anh T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004794 ngày 21/11/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. Anh T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên toà, có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Thuận Nam;
  • - Chi cục THADS huyện Thuận Nam;
  • - UBND xã Phước Dinh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Dương Khánh Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger