TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST
Ngày 04 - 02 - 2025
(V/v Tranh chấp xin ly hôn)
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đinh Cẩm Đào |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Lê Tuấn |
| Ông Phạm Văn Đông | |
| - Thư ký phiên tòa: | Bà Phan Thị Thuý An là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau. |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng – Kiểm sát viên. |
Ngày 04 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số: 73/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông RAO, T, sinh năm 1995 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số 39 Thôn Cao Đường, thôn Hòa Bình, thị trấn Đông Bính, Khu Lật Thủy, thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc.
Bị đơn: Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1996 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ông RAO, T trình bày: Ông và bà Huỳnh Thị N quen biết qua mai mối, sau đó ông bà kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Cà Mau vào ngày 18/9/2023. Quá trình chung sống, ông về Trung Quốc sinh sống, thời gian gần đây ông và bà Như thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng ngôn ngữ và quan điểm sống, nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu xin ly hôn với bà Như. Về con chung, tài sản chung và nợ chung đều không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Do bận công việc nên ông yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt ông.
*Bị đơn bà Huỳnh Thị N đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng đến nay bà Như không có văn bản phản hồi thể hiện ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của ông RAO, T.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự tuân thủ các quy định của pháp luật. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng
Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn, nguyên đơn đang sinh sống tại Trung Quốc, bị đơn hiện đang cư trú tại huyện N, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau theo quy định tại Điều 28, 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu xin ly hôn, ông RAO, T có nộp cho Tòa án đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; bà Như đã được Tòa án tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về thời gian mở phiên họp, hòa giải và phiên tòa nhưng bà Như vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Do đó, căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông, bà là phù hợp.
Về quan hệ hôn nhân
Hôn nhân của ông RAO, T và bà Như được xác lập trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Cà Mau vào ngày 18/9/2023 nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp theo quy định tại các Điều 8, 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Quá trình giải quyết vụ án, ông RAO, T vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với bà Như. Đối với bà Như không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn gửi về cho Tòa án, điều này thể hiện ý chí của bà Như cũng không phản đối yêu cầu của ông RAO, T.
Xét về điều kiện thực tế, hiện nay ông RAO, T sống ở Trung Quốc, còn bà Như sống tại Việt Nam, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên không còn giữ liên lạc với nhau. Điều đó cho thấy hôn nhân của ông bà không có sự gắn kết, chia sẻ, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông RAO, T, cho ông RAO, T được ly hôn với bà Như là phù hợp.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông RAO, T xác định không có, không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, ông RAO, T phải chịu theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 147, 227, 228, 469, 470, 477, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông RAO, T.
Về hôn nhân: Ông RAO, T được ly hôn với bà Huỳnh Thị N.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông RAO, T xác định không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông RAO, T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ngày 19/11/2024, ông RAO, T đã nộp tạm ứng số tiền 300.000 đồng (lai thu số 0000059) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu.
Về quyền kháng cáo: Bà Huỳnh Thị N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, ông RAO, T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày. Thời điểm kể từ ngày nhận bản án hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Cẩm Đào |
Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 04/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
