Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ UÔNG BÍ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HS-ST

Ngày 24-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Vũ Huy Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Phạm Thị Dung và bà Vũ Thị Xuyến.

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thuỳ Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Phạm Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 01/2022/HSST ngày 07 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Bùi Thị V, tên gọi khác: không có, sinh ngày 05/6/1987 tại U, Quảng Ninh. Nơi cư trú: tổ E, khu C, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Như D và bà Đoàn Thị T; chồng: Nguyễn Văn T1 và có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm: 2010; tiền án; không; tiền sự: ngày 28/8/2023 bị Công an thành phố U xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “bán số đề” cho người khác; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/6/2024 đến ngày 17/12/2014 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Bảo lĩnh”. Hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Nguyễn Hữu H, tên gọi khác: không có, sinh ngày 17/11/1992 tại U, Quảng Ninh. Nơi cư trú: tổ D, khu C, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu H1 và bà Vũ Thị G; vợ: Lê Thị Hồng L và có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đầu thú ngày 25/6/2024, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2024 đến ngày 17/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Bảo lĩnh”. Hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
  3. Họ và tên: Bùi Ngọc T2, tên gọi khác: không có, sinh ngày 15/10/1987 tại U, Quảng Ninh. Nơi cư trú: tổ F, khu B, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T3 (đã chết) và bà Lý Thị H2; vợ: Nguyễn Thị Thanh T4 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
  4. Họ và tên: Đỗ Ngọc L1, tên gọi khác: không có, sinh ngày 16/8/1997 tại U, Quảng Ninh. Nơi cư trú: tổ A, khu A, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đình C (đã chết) và bà Trần Thị N; vợ: Hoàng Thị Minh N1 và có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
  5. Họ và tên: Lê Danh H3, tên gọi khác: không có, sinh ngày 02/01/1987 tại Đ, Quảng Ninh. Nơi cư trú: khu phố A, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Danh N2 và bà Đoàn Thị D1; vợ: Đỗ Thị Q và có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
  6. Họ và tên: Phạm Mạnh H4, tên gọi khác: không có, sinh ngày 13/8/1992 tại Đ, Quảng Ninh. Nơi cư trú: thôn L, xã H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Trung L2 và bà Ngô Thị L3; vợ: Nguyễn Thị T5 (đã ly hôn) và có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
  7. Họ và tên: Hoàng Thế V1, tên gọi khác: không có, sinh ngày 19/8/1990 tại Đ, Quảng Ninh. Nơi cư trú: thôn H, xã H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn K (đã chết) và bà Bùi Thị N3; vợ: Nguyễn Thị L4 (đã ly hôn) và có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Văn T6, sinh năm 2002; địa chỉ: tổ C, khu T, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

- Những người làm chứng:

Anh Bùi Văn D2, Đặng Văn T7, Bùi Phi H5, Phạm Đăng H6, Đỗ Hữu A, Trần Văn H7, đều vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Thị V mở bán quán nước tại khu vực tổ E, khu C, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh để tăng thu nhập V đã bán lô, đề nên đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”. Tuy nhiên V vẫn tiếp tục đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho người khác. V thường viết vào một tập giấy trắng, kích thước (KT) khoảng (7x10)cm thường gọi là “phơ đề” có in sẵn các chữ, số “Soạn: XSMB gửi 8012” và “Ngày... tháng...năm 202...” giao cho khách hoặc khách nhắn tin cho V mua số lô, đề. V và người mua số lô, đề dựa theo kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc quay thưởng hàng ngày có 07 giải với 27 dãy số. Hai số cuối cùng của mỗi dãy số sẽ là số lô, hai số cuối cùng của dãy số giải đặc biệt sẽ là số đề, ba số cuối cùng của dãy số giải đặc biệt sẽ là kết quả ba càng. Người đánh bạc mua số lô, số đề sẽ báo số muốn mua cho người bán từ cặp số 00 đến 99, không có giới hạn mua bao nhiêu số. Đối với số lô, mỗi điểm phải trả 23.000 đồng, nếu kết quả xổ số trong ngày đó trúng thì một điểm lô sẽ nhận được 80.000 đồng. Trường hợp ra nhiều lần thì số tiền nhân theo số lượt ra. Đối với số đề người mua bỏ ra bao nhiêu tiền nếu thắng số tiền được hưởng bằng số tiền đã bỏ ra nhân với 80 lần. Đối với ba càng thì tỷ lệ mua 1.000 đồng thắng sẽ nhận được 400.000 đồng. Lô xiên 2 (bao gồm một cặp 2 số lô) 01 điểm lô xiên là 10.000 đồng thắng sẽ được 110.000 đồng. Lô xiên 3 (bao gồm 3 số lô) tỷ lệ là mua 10.000 đồng thắng sẽ được 450.000 đồng. Lô xiên 4 (bao gồm 4 số lô) tỷ lệ là 10.000 đồng thắng sẽ được 1.100.000 đồng. Khách đánh lô, đề đưa tiền mặt hoặc chuyển tiền đến tài khoản ngân hàng V2 số tài khoản (STK) 109000850447 mang tên Bùi Thị V.

Khoảng 17 giờ 25 phút ngày 24/6/2024, các anh Nguyễn Văn T6 và Đặng Duy K1 đến quán nước của V thì T6 đặt vấn đề mua số lô của V, V đồng ý. T6 mua số lô 34 với 05 điểm (23.000đ/01 điểm), 05 x 23.000đ = 115.000 đồng. V lấy phơ đề ghi nội dung “Ngày 24 tháng 6 năm 2024, 34x5đ/115”. T6 đưa cho V tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng (T6 trả 115.000 đồng tiền mua lô và 15.000 đồng tiền nước), V đưa lại phơ đề cho T6 và trả lại T6 70.000 đồng, thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ từ V tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, thu giữ của T6 phơ đề và 70.000 đồng. Ngoài ra còn tạm giữ của V 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, vỏ màu trắng, gắn sim số 0904.024.945; 01 điện thoại di động OPPO A55 vỏ màu xanh gắn sim số 0354.479.303 và 0385.255.454; số tiền 1.763.000 đồng; 01 chiếc bút bi mực xanh; 01 tờ giấy than, KT (10x8)cm; 01 tập giấy trắng gồm 14 tờ, KT khoảng (7x10)cm, một mặt in dòng chữ Soạn: XSMB gửi 8012 và ngày... tháng... năm 202...; 01 chiếc bàn nhựa màu đỏ, KT khoảng (70x34x35)cm.

Ngày 25/6/2024, Nguyễn Hữu H đến Cơ quan điều tra đầu thú và khai nhận: ngày 23/6/2024, H đến quán nước của V mua số lô 14,41, mỗi số 100 điểm = 4.600.000 đồng; lô xiên 14,41 = 400.000 đồng. Tổng là 5.000.000 đồng. H giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Remi Note 10S, vỏ màu xanh, gắn sim số 0383.902.856 và 0962.326.410.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra khôi phục dữ liệu trên điện thoại thu giữ của V và H còn làm rõ: Ngày 14/6/2024, V bán cho Bùi Ngọc T2 số lô 87x50 điểm = 1.150.000 đồng (T2 đã trúng 50 điểm lô với số tiền là 4.000.000 đồng). Tổng tiền đánh bạc là 5.150.000 đồng.

Từ ngày 24/11/2023 đến ngày 07/6/2024 ngoài việc mua số lô, đề của V, H còn nhắn tin qua điện thoại, ứng dụng Zalo và Facebook để mua, bán số lô, đề những lần sau :

  • Ngày 24/11/2023 Đỗ Ngọc L1 bán cho H các số lô (69+96)x 200 điểm = 9.200.000 đồng.
  • Ngày 05/3/2024, H bán cho Phạm Mạnh H4 số lô 45 x 100 điểm = 2.300.000 đồng, H4 trúng tiền mua lô là 8.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 10.300.000 đồng.
  • Ngày 25/02/2024, H bán cho Lê Danh H3 số đề 45 = 100.000 đồng, số ba càng 145=50.000 đồng, số đề 87=10.000 đồng, số đề 98 = 30.000 đồng, số lô 80 x20 điểm = 460.000 đồng, tổng 700.000 đồng. H3 thắng số đề 45 được 8.000.000 đồng, trúng số lô 80 về hai giải được 3.200.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 11.900.000 đồng.
  • Ngày 07/6/2024, H bán cho Hoàng Thế V1 các số lô 98 x150 điểm = 3.450.000 đồng, 99 x50 điểm = 1.150.000 đồng, 89 x 50 điểm = 1.150.000 đồng. Tổng là 5.750.000 đồng.

Ngoài bán số lô, đề với số tiền trên 5 triệu đồng như trên từ ngày 18/10/2023 đến ngày 22/6/2024 V còn bán số lô, đề cho nhiều người với các lần bán số lô, đề này đều dưới 5.000.000 đồng, với tổng số tiền 15.530.000 đồng, cụ thể:

  • Bán cho H; Ngày 18/10/2023 bán 1.500.000 đồng; 04/11/2023 bán 690.00 đồng, 05/11/2023 bán 1.190.000 đồng, 19/02/2024 bán 1.150.000 đồng; 24/3/2024 bán 2.300.000 đồng; ngày 10/4/2024 bán 230.000 đồng; Ngày 13/6/2024 bán 690.000 đồng; sau đó một vài ngày bán 230.000 đồng. Tổng số tiền V bán cho H 8 ngày trên là 7.980.000 đồng.
  • Ngày 12/6/2024, bán cho T2 số lô 85x50 điểm = 1.150.000 đồng.
  • Ngày 15/6/2024, bán cho Bùi Văn D2 (SN: 1991, nơi cư trú: Xóm D, xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình) 500.000 đồng; ngày 22/6/2024 bán 430.000 đồng. Tổng 930.000 đồng.
  • Ngày 16/6/2024, bán cho Đặng Văn T7 (SN: 1997, nơi cư trú: Tổ F, khu C, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh) 690.000 đồng, T7 trúng 1.200.000 đồng. Ngày 23/6/2024 bán cho T7 1.390.000 đồng. Tổng 3.280.000 đồng.
  • Ngày 17/6/2024, bán cho Bùi Phi H5 (sinh năm 1984, nơi cư trú: Tổ E, khu C, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh 740.000 đồng.
  • Ngày 18/6/2024, bán cho Phạm Đăng H6 (Sinh năm 1972, nơi cư trú: Tổ A, khu C, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh) 50.000 đồng.
  • Ngày 19/6/2024 bán cho Đỗ Hữu A (Sinh năm: 1978, nơi cư trú: Tổ D, khu C, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh) 200.000 đồng.
  • Ngày 23/06/2024, bán cho Trần Văn H7 (sinh năm 1983, nơi cư trú: Tổ A, khu T, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh) 400.000 đồng. Hoạch trúng 800.000 đồng. Tổng số tiền 1.200.000 đồng.

Như vậy, từ ngày 18/10/2023 đến ngày 24/6/2024, tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, Bùi Thị V đã đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức bán số lô, số đề với Bùi Ngọc T2 số tiền 5.150.000 đồng, với Nguyễn Hữu H số tiền 5.000.000 đồng. Ngoài ra, V còn đánh bạc với một số người khác nhưng số tiền dưới 5.000.000 đồng với tổng số tiền là 15.645.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền V đánh bạc là 25.795.000 đồng.

Đỗ Ngọc L1 có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề với Nguyễn Hữu H số tiền 9.200.000 đồng.

Ngoài đánh bạc với Bùi Thị V và Đỗ Ngọc L1, Nguyễn Hữu H còn đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề với Phạm Mạnh H4 số tiền 10.300.000 đồng, với Lê Danh H3 11.900.000 đồng, với Hoàng Thế V1 5.750.000 đồng. Tổng số tiền H đánh bạc là 42.150.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, được chấp nhận.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Về hình phạt chính: hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình của những người ham mê đỏ đen, là nguyên nhân làm phát sinh ra các loại tội phạm khác. Các bị cáo đều là những người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc đánh bạc được thua bằng tiền là vi phạm, bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì hám lợi, các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo, nhằm giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

-Xét vai trò và nhân thân của các bị cáo thấy: vụ án mang tính đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết, phân công vai trò chặt chẽ, mà các bị cáo cùng là những người thực hành. Bị cáo V là người dùng địa điểm là quán nước chè của gia đình bị cáo và trực tiếp bán số lô, đề cho những người chơi, nên bị cáo giữ vai trò đầu vụ. Tiếp đến là bị cáo H đã mua số lô của bị cáo V và L1 đồng thời còn bán số lô, số đề cho các bị cáo khác nên giữ vai trò thứ hai. Tiếp đến là bị cáo L1 đã bán số lô cho bị cáo H để hưởng lợi số tiền 9.200.000 đồng nên giữ vai trò thứ ba. Những bị cáo còn lại là những người mua số lô, số đề của V và H với số tiền không lớn nên giữ vai trò sau cùng trong vụ án. Bị cáo V là người có nhân thân xấu đã có tiền sự, các bị cáo còn lại có nhân thân tốt. HĐXX sẽ xem xét số tiền cụ thể của các bị cáo dùng đánh bạc để đưa ra mức hình phạt tương xứng với từng bị cáo.

-Về tình tiết tăng nặng: bị cáo V và H thực hiện hành vi đánh bạc 2 lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo còn lại không có tình tiết tăng nặng.

-Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (BLHS). Riêng bị cáo H sau khi phạm tội ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Các bị cáo Bùi Ngọc T2, Đỗ Ngọc L1, Phạm Mạnh H4, Lê Danh H3 và Hoàng Thế V1 là những người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i khoản 1 Điều 51 (Riêng bị cáo H sau khi phạm tội ra đầu thú, mẹ bị cáo H3 và bố bị cáo V1 được tặng Huân chương kháng chiến nên các bị cáo H, H3, V1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS). HĐXX sẽ xem xét cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với từng bị cáo.

Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, HĐXX thấy cần bắt bị cáo Bùi Thị V và Nguyễn Hữu H phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm. Đối với các bị cáo còn lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có địa chỉ cư trú rõ ràng đều là lao động chính trong gia đình. Vì vậy không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp và cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo để các bị cáo thấy được tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

[3.2] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy hai bị cáo V và H là những người không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng, kinh tế khó khăn, nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Đối với các bị cáo còn lại đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[4] Về xử lý biện pháp ngăn chặn:

những lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ số 01 đến số 05 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh từ số 03 đến số 07 cùng ngày 03/01/2025 của Toà án nhân dân thành phố Uông Bí đối với các bị cáo Bùi Ngọc T2, Đỗ Ngọc L1, Lê Danh H3, Phạm Mạnh H4, Hoàng Thế V1 cần được hủy bỏ.

Đối với bị cáo Bùi Thị V, Nguyễn Hữu H bị xử phạt tù giam nên Quyết định bảo lĩnh số 01, số 02 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 01, số 02 cùng ngày 03/01/2025 của Toà án nhân dân thành phố Uông Bí không đảm bảo thời gian đến khi bị cáo đi chấp hành hình phạt tù nên huỷ bỏ. Hội đồng xét xử tiếp tục ban hành Quyết định về việc Bảo lĩnh và tạm hoãn xuất cảnh đối với bị cáo bị cáo V, H, kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm 24/01/2025 cho đến khi các bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.

[5] Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, vỏ màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 vỏ màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Remi Note 10s, vỏ màu xanh là công cụ phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với các sim số 0904.024.945, 0354.479.303, 0385.255.454, 0383.902.856, 0962.326.410 bị cáo V và H dùng để liên lạc đánh bạc; 04 chiếc ghế nhựa màu đỏ kích thước khoảng (70x34x35)cm và 01 chiếc bàn nhựa màu đỏ, kích thước khoảng (70x34x35)cm V không có nhu cầu nhận lại; 01 chiếc bút bi mực xanh không có nắp, trên thân vỏ bút có dòng chữ “metal Clip 0.7mm” V dùng để ghi số lô, đề đều không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 200.000 đồng thu của V, trong đó có 115.000 đồng bán số lô cho anh T6 cần tịch thu sung ngân sách nhà nước, còn lại là số tiền 85.000 đồng là tiền V bán nước, cần trả lại cho V.

Đối với số tiền 1.763.000 đồng thu của V, 70.000 đồng thu của T6 không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho V và T6.

- Đối với số tiền các bị cáo hưởng lợi do đánh bạc: bị cáo Bùi Thị V 19.180.000 đồng, bị cáo Nguyễn Hữu H 8.750.000 đồng, bị cáo Đỗ Ngọc L1 9.200.000 đồng, bị cáo Bùi Ngọc T2 4.000.000 đồng, bị cáo Phạm Mạnh H4 8.000.000 đồng, bị cáo Lê Danh H3 11.200.000 đồng cần truy thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 01 tờ giấy than kích thước khoảng(10x8)cm, đã qua sử dụng; 01 tập giấy trắng gồm 14 tờ, kích thước khoảng (7x10)cm, một mặt in dòng chữ (Soạn:XSMB gửi 8012 và “Ngày...tháng...năm202...”); một tờ giấy kích thước khoảng (7x10)cm, có in dòng chữ (Soạn:XSMB gửi 8012 và “Ngày...tháng...năm202...”), có chữ viết tay in bằng giấy than có nội dung: “24/6/4,34x5đ,/115”, được lưu trong hồ sơ vụ án.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo:

các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[7] Các tình tiết khác trong vụ án:

Đối với các anh Bùi Văn D2, Đặng Văn T7, Bùi Phi H5, Phạm Đăng H6, Đỗ Hữu A, Trần Văn H7, Nguyễn Văn T6 có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô đề dưới 5.000.000 đồng chưa đủ điều kiện xử lý hình sự, Công an thành phố U đã xử phạt hành chính đối với các anh.

Ngoài ra, đối với trường hợp anh Bùi Văn D2 (sinh năm:1991; cư trú: Xóm D, xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình), Quá trình điều tra, xác định được D2 có hành vi mua số lô, đề của Bùi Thị V với số tiền dưới 5.000.000 đồng. Cơ quan điều tra chưa làm việc được với D2. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý theo đúng quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:
    1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Bùi Thị V phạm tội “Đánh bạc”.

      Xử phạt: Bùi Thị V 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án (được trừ đi những ngày đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/6/2024 đến ngày 17/12/2024).

    2. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội “Đánh bạc”

      Xử phạt: Nguyễn Hữu H 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án (được trừ đi những ngày đã tạm giữ tạm giam, từ ngày 25/6/2024 đến ngày 17/12/2024).

    3. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, (khoản 2 đối với các bị cáo H3, V1) Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố các bị cáo Bùi Ngọc T2, Đỗ Ngọc L1, Lê Danh H3, Phạm Mạnh H4 và Hoàng Thế V1 phạm tội “Đánh bạc”.

      Phạt: các bị cáo Bùi Ngọc T2Hoàng Thế V1, mỗi bị cáo 20.000.000 đồng, nộp ngân sách Nhà nước

      Phạt: các bị cáo Lê Danh H3, Phạm Mạnh H4, mỗi bị cáo 22.000.000 đồng, nộp ngân sách Nhà nước.

      Phạt: bị cáo Đỗ Ngọc L1 25.000.000 đồng, nộp ngân sách Nhà nước.

  2. Về xử lý biện pháp ngăn chặn:

    căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Huỷ bỏ những lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ số 01 đến 05 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh từ số 03 đến số 07 cùng ngày 03/01/2025 của Toà án nhân dân thành phố Uông Bí đối với các bị cáo Bùi Ngọc T2, Đỗ Ngọc L1, Lê Danh H3, Phạm Mạnh H4, Hoàng Thế V1; Hủy bỏ quyết định bảo lĩnh số 01, số 02 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 01, số 02 cùng ngày 03/01/2025 của Toà án nhân dân thành phố Uông Bí đối với các bị cáo Bùi Thị V, Nguyễn Hữu H.

  3. Về xử lý vật chứng:

    căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, vỏ màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 vỏ màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Remi Note 10s, vỏ màu xanh; số tiền 115.000 đồng của V.

    Tịch thu tiêu huỷ các sim số 0904.024.945, 0354.479.303, 0385.255.454, 0383.902.856, 0962.326.410 bị cáo V và H dùng để liên lạc đánh bạc; 04 chiếc ghế nhựa màu đỏ kích thước khoảng (70x34x35)cm; 01 chiếc bàn nhựa màu đỏ, kích thước khoảng (70x34x35)cm V không có nhu cầu nhận lại; 01 chiếc bút bi mực xanh không có nắp, trên thân vỏ bút có dòng chữ “metal Clip 0.7mm” V dùng để ghi số lô, đề.

    (Toàn bộ số vật chứng, tài sản trên có đặc điểm, tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).

    Buộc bị cáo Bùi Thị V phải nộp lại 19.180.000 đồng, bị cáo Nguyễn Hữu H nộp lại 8.750.000 đồng, bị cáo Đỗ Ngọc L1 9.200.000 đồng, bị cáo Bùi Ngọc T2 4.000.000 đồng, bị cáo Phạm Mạnh H4 8.000.000 đồng, bị cáo Lê Danh H3 11.200.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

    Trả lại cho bị cáo V 1.848.000 đồng, trả lại cho anh T6 70.000 đồng.

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận tài sản, Phiếu nhập kho được lập cùng ngày 30 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U và Kho bạc nhà nước thành phố U).

  4. Về án phí:

    áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Bùi Thị V, Nguyễn Hữu H, Bùi Ngọc T2, Đỗ Ngọc L1, Phạm Mạnh H4, Lê Danh H3 và Hoàng Thế V1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo:

    căn cứ vào khoản 1 Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát ND - TP. Uông Bí;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN;
  • - Chi cục THA DS TP. Uông Bí;
  • - Cơ quan THA hình sự công an TP Uông Bí;
  • - Cơ quan điều tra Công an TP Uông Bí;
  • - Cơ quan HSNV C.A TP Uông Bí;
  • - Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh.
  • - Lưu hồ sơ, VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Huy Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH về đánh bạc

  • Số bản án: 03/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị V - Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger