Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HẢI CHÂU

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24/01/2025

V/v "Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Thủy
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Bá Dũng
  • Ông Nguyễn Tấn Ảnh
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
  • tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hiếu - Kiểm sát viên.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Bình – Thư ký Tòa án nhân dân quận
  • Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 157/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Mai Thị Bích L - sinh năm 2003. Vắng mặt có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  2. Địa chỉ: P Chung cư S đường L, tổ B, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng.

  3. Bị đơn: Ông Trịnh Thanh H - Sinh năm 1992. Vắng mặt
  4. Địa chỉ: K C, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và văn bản gửi Tòa án, nguyên đơn bà Mai Thị Bích L trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Mai Thị Bích L và ông Trịnh Thanh H kết hôn vào năm 2021, đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.
  • Trong quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do không cùng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, thiếu tôn trọng nhau. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài và ngày càng trầm trọng nên ông bà đã sống ly thân từ tháng 6 nay. Bà L xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông H, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà mong muốn Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.
  • - Về con chung: Bà L xác định bà và ông H có 01 con chung tên Trịnh Thị Ngọc U, sinh ngày 15/7/2021. Ly hôn, bà yêu cầu giao con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
  • - Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu giải quyết về tài sản chung.
  • - Về nợ chung: Bà L xác định bà và ông H không có nợ chung.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để tiến hành hòa giải, tuy nhiên ông Trịnh Thanh H vẫn vắng mặt không có lý do, đồng thời không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà L.

Kết quả xác minh tại địa phương nơi ông H và bà L từng chung sống xác định, ông Trịnh Thanh H và bà Mai Thị Bích L sau khi kết hôn có chung sống tại K C, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Sau đó, do vợ chồng mâu thuẫn, bà L đã về nhà mẹ bà L sinh sống. Cháu Trịnh Thị Ngọc U tiếp tục sống với ông H. Mâu thuẫn vợ chồng cụ thể như thế nào thì địa phương không nắm rõ.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Tại phiên tòa nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt ở phiên tòa lần thứ hai nên căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn, nuôi con chung là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Yêu cầu xin ly hôn của bà Mai Thị Bích L đối với ông Trịnh Thanh H là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Hải Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nên căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Trịnh Thanh H và bà Mai Thị Bích L kết hôn vào năm 2021, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét yêu cầu khởi kiện của bà L thì thấy: Quá trình chung sống, do tính tình, quan điểm không phù hợp, dẫn đến ông H và bà L thường xuyên mâu thuẫn. Vợ chồng sống ly thân đến nay đã hơn 6 tháng, mâu thuẫn đã kéo dài và không thể khắc phục. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hòa giải nhưng ông H vẫn không có mặt, không có ý chí muốn hàn gắn quan hệ. Mặc dù Tòa án đã phân tích pháp lý và tình cảm cho bà L nhưng bà vẫn kiên quyết xin ly hôn, xác định không còn tình cảm, không thể sống chung với ông H. Xét thấy tình cảm vợ chồng cần phải vun đắp từ hai phía mới đảm bảo cuộc sống chung hạnh phúc, nhưng tình trạng hôn nhân giữa bà L và ông H đã mâu thuẫn kéo dài và trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L là phù hợp với Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về quan hệ con chung: Ông H và bà L có 01 con chung tên Trịnh Thị Ngọc U, sinh ngày 15/7/2021. Bà L có nguyện vọng giao con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng. HĐXX xét thấy, cháu U hiện đang chung sống ổn định cùng ông H tại K C, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng và ông H không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà L về việc nuôi con, nên tiếp tục giao cháu U cho ông H nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con, bà L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng từ khi ly hôn cho đến khi con chung thành niên. HĐXX nhận thấy việc thực hiện cấp dưỡng nuôi con sẽ đảm bảo cho cháu U có cuộc sống vật chất, tinh thần tốt hơn nên cần chấp nhận.

[2.3] Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên HĐXX không giải quyết.

[2.4] Về nợ chung: Bà L xác định không có nợ chung nên HĐXX không giải quyết.

[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Mai Thị Bích L phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Bích L về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” đối với ông Trịnh Thanh H.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: bà Mai Thị Bích L được ly hôn với ông Trịnh Thanh H.
  2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Trịnh Thị Ngọc U, sinh ngày 15/7/2021 cho ông Trịnh Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng của bà Mai Thị Bích L. Thời gian cấp dưỡng kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.
  3. Kể từ ngày ông H có đơn yêu cầu thi hành án mà bà L không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì hàng tháng bà L còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

    Sau ly hôn, quyền và nghĩa vụ đối với con chung các bên thực hiện theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 luật Hôn nhân và gia đình.

  4. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng bà Mai Thị Bích L phải chịu; được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí HNGĐ bà L đã nộp theo biên lai thu số 0004536 ngày 21/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
  5. Án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng bà Mai Thị Bích L phải chịu.

  6. Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - UBND phường Thanh Bình (Số đk
  • 52, ngày 10/6/2021);
  • - Chi cục THADS quận Hải Châu
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Bích L về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” đối với ông Trịnh Thanh H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger