Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM NÔNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24-01-2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trần Minh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Hữu Phúc.
  • 2. Bà Đặng Thị Nguyên Hồng.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đặng Hồng Thiên, là Thư ký của HToà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Tuyết Phương- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 380/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số: 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Nguyễn Văn P, sinh năm: 1986 (vắng mặt)
    Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Bị đơn: Nguyễn Thị Phương L, sinh năm: 1996 (vắng mặt)
    Địa chỉ: ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  3. Người làm chứng: Nguyễn Thị Ngọc G, sinh năm: 1968 (vắng mặt)
    Địa chỉ: ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại Đơn khởi kiện đề ngày 14/11/2024; Văn bản trình bày ý kiến ngày 02/12/2024 và Đơn xin xét xử vắng mặt ngày 02/12/2024 của nguyên đơn anh Nguyễn Văn P trình bày:

Về hôn nhân: Anh P và chị Nguyễn Thị Phương L tự tìm hiểu và kết hôn năm 2013, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 094/2014 ngày 04/11/2014). Trong quá trình chung sống anh P và chị L có một con chung tên Nguyễn Công M, sinh ngày 01/10/2014. Đến tháng 05/2015 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do chị L có mối quan hệ tình cảm với người đàn ông khác bên ngoài, vợ chồng luôn cự cãi, nhận thức trong cuộc sống luôn khác nhau, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được không thể kéo dài cuộc sống vợ chồng, nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 05/2015 cho đến nay. Trong thời gian ly thân anh P và chị L không hàn gắn lại được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh P được ly hôn với chị Nguyễn Thị Phương L.

Về nuôi con: Có một con chung tên Nguyễn Công M, sinh ngày 01/10/2014, hiện nay đang sống với anh P, khi ly hôn anh P yêu cầu được nuôi con chung, anh P không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn chị Nguyễn Thị Phương L vắng mặt: Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án số 380/2024/TB-TLVA ngày 02/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và thông báo về việc yêu cầu đương sự có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn theo quy định nhưng chị L không đến Tòa án trình bày và cũng không có văn bản ý kiến gửi Tòa án và cũng không có mặt tại các lần mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình thụ lý và giải quyết của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ theo trình tự thủ tục quy định pháp luật. Tại phiên toà nguyên đơn anh P có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn chị L, không có mặt để tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Người làm chứng bà Nguyễn Thị Ngọc Giàu C đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh P, chị L và bà G là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2, Điều 227, khoản 1 và 3 Điều 228 và Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn P đối với chị Nguyễn Thị Phương L.

Về nuôi con: Giao con chung tên Nguyễn Công M, sinh ngày 01/10/2014 (cháu Nguyễn Công M hiện nay đang sống chung với anh Nguyễn Văn P), cho anh Nguyễn Văn P tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, chị Nguyễn Thị Phương L không cấp dưỡng nuôi con do anh Nguyễn Văn P không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn khẳng định đã xuất trình đầy đủ các chứng cứ cho Tòa án xem xét và không yêu cầu gì mới hay cung cấp chứng cứ gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Anh Nguyễn Văn P yêu cầu ly hôn và tranh chấp về nuôi con với chị Nguyễn Thị Phương L. Chị L hiện cư trú tại địa chỉ ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tam Nông theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Tại phiên tòa, nguyên đơn anh P đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên toà nhưng do bận công việc nên có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn chị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đúng theo quy định, nhưng vẫn vắng mặt lần hai không có lý do, người làm chứng bà Giàu có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh P, chị L và bà G là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2, Điều 227, khoản 1 và 3 Điều 228 và Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa anh P và chị L là hoàn toàn tự nguyện và anh, chị có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, trong quá trình chung sống anh, chị sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do chị L có mối quan hệ tình cảm với người đàn ông khác bên ngoài, vợ chồng luôn cự cãi, nhận thức trong cuộc sống luôn khác nhau, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được không thể kéo dài cuộc sống vợ chồng được, anh P và chị L đã ly thân từ tháng 05/2015 cho đến nay, từ khi ly thân đến nay anh, chị không gặp nhau để tìm ra phương cách hàn gắn tình cảm lại với nhau dẫn đến anh P yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án có tiến hành hòa giải để động viên cho anh, chị hàn gắn lại với nhau nhưng chị L không có mặt theo thông báo của Tòa án và cũng không có văn bản ý kiến gửi Tòa án xem xét, chứng tỏ chị L không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với anh P. Mặt khác, tại biên bản lấy lời khai bà G ngày 02/12/2024 cũng xác định trong đời sống hôn nhân của anh P và chị L luôn mâu thuẫn bất hoà và cự cãi do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Xét thấy, đời sống chung của anh, chị không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh P đối với chị L là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án anh P trình bày trong thời gian chung sống anh, chị L có một con chung tên Nguyễn Công M, sinh ngày 01/10/2014, hiện nay con chung đang sống chung với anh P. Khi ly hôn, anh P yêu cầu được nuôi con chung, anh P không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, đối với cháu M từ khi anh P và chị L sống ly thân cho đến nay, cháu M do anh P nuôi dưỡng, trong quá trình nuôi dưỡng anh P vẫn đảm bảo cho cháu M có cuộc sống ổn định, phát triển tốt. Mặt khác, tại Bản tự khai ngày 26/12/2024 cháu M có nguyện vọng sống với anh P nên chấp nhận giao cháu M cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Anh P và chị L thực hiện các quyền và nghĩa vụ về trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con; nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con theo quy định tại các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh P không có yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con, chị L không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về chia tài sản: Trong quá trình giải quyết vụ án anh P trình bày tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết và vợ chồng cũng không thiếu nợ ai khác. Đối với chị L không có ý kiến cung cấp trong quá trình Tòa án giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này giữa anh P và chị L có phát sinh tranh chấp về chia tài sản thì giải quyết bằng vụ án khác.

[3] Về án phí: Anh P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1, Điều 227, khoản 1 và 3 Điều 228, Điều 229 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn P.

  1. Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn P ly hôn với chị Nguyễn Thị Phương L (theo giấy chứng nhận kết hôn số: 094/2014, ngày 04 tháng 11 năm 2014, của Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp).
  2. Về nuôi con:
    1. Giao con chung tên Nguyễn Công M, sinh ngày 01/10/2014 (Nguyễn Công M hiện nay đang sống chung với anh Nguyễn Văn P), cho anh Nguyễn Văn P tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.
    2. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn P không yêu cầu chị Nguyễn Thị Phương L cấp dưỡng nuôi con. Chị Nguyễn Thị Phương L không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung.
    3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
  3. Về án phí sơ thẩm:
    1. Anh Nguyễn Văn P phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0014988 ngày 02 tháng 12 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp. Anh Nguyễn Văn P đã nộp xong án phí.
    2. Chị Nguyễn Thị Phương L không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  4. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Tam Nông;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Nông;
  • - UBND xã P, huyện T;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Trần Minh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Nguyễn Văn P và Nguyễn Thị Phương L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger