Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐOAN HÙNG

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HS-ST

Ngày: 24 - 01 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Duyên

  • - Các Hội thẩm nhân dân:

    1. Ông Nguyễn Trí Dũng

    2. Ông Vũ Văn Võ

  • - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trung Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn C, sinh ngày 24/6/1994; tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu D, xã M, (nay là xã Y), huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đăng T, sinh năm 1968 và bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1971; Vợ: Trần Thị H, sinh năm 1996; Con: 02 con; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/12/2024 đến ngày 08/01/2025 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Dương Văn K, sinh năm 2003

    Địa chỉ: Khu C, xã M cũ (nay là xã Y), huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)

  2. Anh Nguyễn Mạnh T2, sinh năm 1998

    Địa chỉ: Khu N, xã V, (nay là xã C), huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt)

  3. Chị Trần Thị H, sinh năm 1996

    Địa chỉ: Khu D, xã M cũ (nay là xã Y), huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối năm 2023, do xem được hướng dẫn sản xuất pháo hoa nổ trên mạng xã hội Tiktok, Nguyễn Văn C sinh năm 1994 ở khu D, xã M, (nay là xã Y), huyện Đ đã nảy sinh ý định tự sản xuất pháo hoa nổ để sử dụng vào dịp Tết Nguyên đán năm 2024. Thực hiện ý định trên, C sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus lắp sim số 0348330096 của mình, đăng nhập vào mạng xã hội Tiktok, tìm và đặt mua trên sàn giao dịch điện tử Tiktok các vật, chất gồm: KNO3 (Kali Nitrat), KCIO3 (Kali Clorat), A (N), S (Lưu huỳnh), C (Bột than), tinh bột gạo, dây dẫn, cốc giấy, quả cầu giấy, thuốc phóng, P, cân điện tử để làm pháo hoa nổ. Ngoài ra, C cũng tự chuẩn bị một số đồ dùng sinh hoạt hàng ngày của gia đình gồm mô tơ điện tháo từ đồ chơi, chày gỗ, cối nhôm, thìa kim loại, túi nilon, lọ nhựa, cốc nhựa, vỏ trấu khô, keo 502 để sản xuất pháo nổ dùng ngòi cháy chậm. Sau khi nhận được các vật, chất đã đặt mua, C trộn một phần các chất KNO3 (Kali Nitrat), KCIO3 (Kali Clorat), S (Lưu huỳnh), C (Bột than), tinh bột gạo cùng với vỏ trấu đã được ngâm nước trước đó để tạo thành “nhân trấu” rồi tự sản xuất được 05 quả pháo hoa nổ dùng ngòi cháy chậm. C đem 02 quả pháo hoa nổ dùng ngòi cháy chậm ra rủ Dương Văn K sinh năm 2003 ở khu C, xã M, (nay là xã Y) đốt thử nhưng không nói cho K biết 02 quả pháo hoa nổ trên là do C tự sản xuất. Sau khi đốt thấy 02 quả pháo trên không nổ cũng không phát sáng, C đem cất giấu 03 quả pháo cùng các vật, chất còn lại tại nhà mình, không tiếp tục sản xuất pháo nữa.

Đến khoảng tháng 5/2024, C tiếp tục nảy sinh ý định sản xuất pháo hoa nổ để sử dụng vào dịp Tết Nguyên đán năm 2025. Nguyễn Văn C lên mạng xã hội T3 tìm hiểu thêm về cách làm pháo hoa nổ dùng ngòi dẫn điện để kích nổ, đồng thời rủ Dương Văn K sản xuất cùng, K đồng ý. Do C nói đã chuẩn bị các vật, chất để sản xuất pháo từ trước, nên K nhận làm “ngòi dẫn điện” cũng như mua thêm một số cốc giấy, quả cầu giấy từ trên sàn giao dịch điện tử Tiktok để cùng C sản xuất pháo hoa nổ. K lấy các bóng đèn sợi đốt dạng bóng điện trang trí cũ cũng như các đoạn dây điện cũ có sẵn tại nhà mình, dùng chiếc máy hàn thiếc cũ hàn 02 đầu dây điện vào 02 đầu đui đèn tạo thành khoảng 35 ngòi dẫn điện. Đến khoảng tháng 10/2024, K mang số ngòi dẫn điện này cùng một số cốc giấy, quả cầu giấy đã mua đến nhà Chung. Lúc này, C đã làm sẵn nhân trấu theo như công thức như trên, trong đó đã sử dụng toàn bộ các chất KNO3 (Kali Nitrat), KCIO3 (Kali Clorat), S (Lưu huỳnh) mà C mua từ cuối năm 2023. Buổi tối cùng ngày, C và K cùng ngồi tại gian bếp của nhà Chung để sản xuất pháo hoa nổ. Thời điểm này, nhà Chung không có ai ở nhà. C đập các bóng điện sợi đốt mà K đã hàn sẵn để làm ngòi dẫn điện, trong quá trình đập, C làm hỏng một số ngòi dẫn điện, chỉ còn lại 24 ngòi dẫn điện có thể sử dụng được. Do C am hiểu về cách làm pháo hoa nổ hơn, bản thân K cũng bị cụt 02 ngón tay ở bàn tay trái nên C là người trực tiếp sản xuất pháo, K chỉ đứng ở bên phụ giúp bỏ thuốc phóng vào quả pháo cũng như phụ đưa các vật, chất khi cần. Trong quá trình làm, theo chỉ đạo của C, K nhận 190.000đ từ C đi mua băng dính về để cuốn pháo.

Cách thức sản xuất pháo hoa nổ dùng ngòi dẫn điện mà C thực hiện như sau: Tạo 01 lỗ nhỏ trên quả cầu giấy, đặt 01 đầu dây dẫn (ngòi cháy chậm) vào bên trong quả cầu giấy rồi cho nhân trấu và P vào đầy khoảng trống bên trong quả cầu giấy, dùng keo 502 dán và băng dính cuốn xung quanh để cố định quả cầu giấy này. Sau đó, đặt quả cầu giấy lên trên cốc giấy đã được cho thuốc phóng sao cho phần đầu dây dẫn tiếp xúc với thuốc phóng bên trong cốc giấy rồi đặt ngòi dẫn điện tiếp xúc với phần thuốc phóng này. Sau cùng, dùng keo 502 gắn cố định quả cầu giấy và cốc giấy với nhau, cuốn băng dính xung quanh là hoàn thành 01 quả pháo hoa nổ. Ở lần này, K và C làm được tổng số 14 quả pháo hoa nổ dùng ngòi dẫn điện, trong đó đã bao gồm 03 quả pháo hoa nổ mà C tự sản xuất từ trước, C tận dụng lại phần nhân trấu và vật, chất bên trong 03 quả pháo này để tạo thành các quả pháo hoa nổ mới dùng ngòi dẫn điện.

Sau khi sản xuất được số pháo hoa nổ như trên, C nói với K là đã hết một số vật, chất để sản xuất pháo nên cả hai bàn nhau mua thêm vật, chất còn thiếu để tiếp tục sản xuất pháo hoa nổ. C tiếp tục sử dụng điện thoại Iphone 7Plus của mình lên sàn giao dịch điện tử T3 đặt mua thêm các chất còn thiếu là KNO3 (Kali Nitrat), KCIO3 (Kali Clorat), S (Lưu huỳnh), C (bột than) và để lại số điện thoại 0343.923.xxx của K cũng như đưa cho K 300.000đ để nhận và trả tiền hàng. Khoảng 02 ngày sau, K nhận được các chất mà C đã đặt mua, thanh toán tiền mua hàng là 300.000đ cũng như tự bỏ tiền ra trả 50.000đ cước vận chuyển. Sau khi nhận được, K không mở ra mà đem đến nhà cho C rồi đi về. Sau khi trở về nhà, thấy bưu phẩm K đem đến, C đã bỏ ra, trộn một phần các chất trên với một phần tinh bột gạo mà C đã mua từ năm 2023 để tạo thành “nhân trấu”. Tối ngày hôm sau, khi vợ con C không có nhà, vẫn tại gian bếp nhà Chung, với số “nhân trấu” làm sẵn, C và K sản xuất được 11 quả pháo hoa nổ dùng ngòi dẫn điện. Sau khi phụ giúp C một số việc cần thiết, K đi lên phòng khách nhà Chung ngồi chơi, để C hoàn thiện các bước còn lại để tạo ra quả pháo hoa nổ hoàn chỉnh. Do vẫn có nhu cầu sản xuất thêm pháo hoa nổ nên C tiếp tục ngồi tại gian bếp, trộn thêm “nhân trấu”. Trong khi C đang trộn “nhân trấu” thì K ra về nên đi xuống cửa bếp để chào C. C nói với K “để anh làm nốt”, K không đi vào bếp, không nhìn rõ C làm gì, nghĩ C bảo để C hoàn thiện nốt công đoạn cuốn băng dính nên K không nói gì và đi về nhà.

Những ngày sau đó, C không rủ và K cũng không đến nhà Chung sản xuất pháo nữa. Với số nhân trấu đã trộn, vẫn với công thức như trên, C tự sản xuất thêm được 07 quả pháo hoa nổ nhưng dùng ngòi cháy chậm, (do đã hết ngòi dẫn điện). Ngoài ra, C cũng xem hướng dẫn trên mạng, trộn các chất KNO3 (Kali Nitrat), KCIO3 (Kali Clorat), S (Lưu huỳnh) lại với nhau tạo thành hỗn hợp rồi dùng thìa xúc hỗn hợp này cho 03 cuộn giấy đã cuốn từ trước rồi đặt 01 đầu dây dẫn (ngòi cháy chậm) vào 01 đầu cuộn giấy rồi cho thêm giấy vụn, dùng keo 502 và băng dính dán kín 03 cuộn giấy lại, tạo thành 03 quả pháo nổ. C cất giấu toàn bộ số pháo này tại bếp nhà mình.

Đến ngày 05/11/2024, K đến nhà Chung chơi. Tại đây, C mang toàn bộ số pháo hoa cùng sản xuất với K cũng như C tự sản xuất ra cùng K kiểm đếm được 31 quả. Do nhà Chung có trẻ con, không tiện cất giấu pháo nên C giữ lại 02 quả pháo hoa nổ còn đưa cho K 29 quả pháo hoa nổ còn lại để K đem cất giấu tại nhà K. 03 quả pháo nổ C tự sản xuất, C không mang ra kiểm đếm cũng không nói với K nên K không biết về số pháo nổ này.

Đến ngày 08/11/2024, qua ứng dụng M, K nói với bạn là Nguyễn Mạnh T2 sinh năm 1998 ở khu N, xã V (nay là xã C), huyện Đ biết K có pháo hoa nổ. Thấy vậy, T2 đã hỏi mua của K 10 quả pháo hoa nổ để đốt vào dịp Tết Nguyên đán 2025. Hai bên thống nhất giá bán là 200.000đ/quả. T2 bảo K mang cho T2 trước 03 quả để T2 sử dụng thử. K đồng ý. Tối ngày 09/11/2024, K mang 03 quả pháo hoa nổ cùng 01 bộ điều khiển (K tận dụng từ bộ điều khiển K mua từ năm 2022 để điều khiển một số đồ dùng điện tử trong nhà) đến cho T2. Tại đây, K sử dụng bộ điều khiển kích nổ 01 quả pháo hoa nổ nhưng không nổ, không phát sáng nên tiếp tục kích nổ quả pháo thứ hai. Thấy quả pháo này nổ và phát sáng không đẹp nên T2 chỉ đồng ý lấy 03 quả pháo này, K không tính tiền quả pháo không nổ và đưa 01 quả pháo còn lại cho T2 đồng thời cho mượn bộ điều khiển trên. T2 đem cất giấu quả pháo này tại nhà mình, chưa thanh toán 400.000đ tiền mua pháo cho K.

Đến ngày 12/11/2024, K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner biển số 19E1-309.09 của mình đi đến xã C, huyện Đ để chơi. Trước khi đi, K bỏ 03 quả pháo hoa nổ cùng 01 bộ điều khiển (K tận dụng từ bộ điều khiển K mua từ năm 2022 để điều khiển một số đồ dùng điện tử trong nhà) vào trong túi giả da của mình, mục đích nếu gặp bạn thì sẽ đốt thử. Tuy nhiên, khi K đang điều khiển xe đi trên Quốc lộ B, đoạn thuộc khu B, xã C thì bị tổ công tác thuộc Công an huyện Đ kiểm tra, phát hiện và lập biên bản. Quá trình lập biên bản, tổ công tác đã niêm phong 03 quả cầu giấy mà K khai báo là pháo cùng 01 bộ điều khiển như trên gửi đi giám định, đồng thời cũng thu giữ của K chiếc xe mô tô, chiếc túi giả da cùng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax lắp sim số 0343923000 và 0369372874.

Sau khi bị triệu tập, K khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên, đồng thời tự khai nhận tại nhà còn tàng trữ 23 quả pháo hoa nổ khác. Căn cứ lời khai của K, Cơ quan điều tra đã kiểm tra, thu giữ tại nhà K 23 quả pháo hoa nổ trên đồng thời triệu tập C, T2 đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, C thừa nhận việc tự sản xuất và cùng K sản xuất được tổng số 31 quả pháo hoa nổ và 03 quả pháo nổ đồng thời tự nguyện giao nộp 02 quả pháo nổ và 03 quả pháo nổ cũng như các vật, chất, dụng cụ đã sử dụng vào việc sản xuất pháo. Cơ quan điều tra đã niêm phong toàn bộ các vật nghi là pháo cùng các vật, chất trên gửi đi giám định. Ngoài ra, cũng thu giữ của C chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus lắp sim số 0348330096. Nguyễn Mạnh T2 khi bị triệu tập cũng thừa nhận việc mua pháo hoa nổ của K như K đã khai, tự nguyện giao nộp 01 quả pháo hoa nổ cùng 01 bộ điều khiển và 400.000đ tiền mua pháo hoa nổ của K. Cơ quan điều tra cũng đã niêm phong những vật này gửi đi giám định.

Tại Kết luận giám định số 1578/KL-KTHS, ngày 20/11/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh P đã kết luận.

“1. Mẫu vật thu giữ của Dương Văn K:

03 vật đều có đặc điểm phần trên hình bán cầu có đường kính 6,8cm bên ngoài được bọc băng dính màu trắng, phần dưới hình nón có chiều dài 6,2cm bằng giấy màu nâu, ở giữa cả 03 vật tả trên đều có gắn 02 dây dẫn điện để bên trong 01 túi niêm phong có mã số PS3A 104676 gửi đến giám định đều là pháo hoa nổ (có chứa thuốc pháo; khi có tác động của xung kích thích cơ, nhiệt, hóa hoặc điện gây ra tiếng nổ và tạo ra hiệu ứng âm thanh, ánh sáng, màu sắc). Tổng khối lượng của 03 vật trên là 0,45kg.

23 vật đều có đặc điểm phần trên hình bán cầu, phần dưới hình nón trong đó: 02 vật phần trên hình bán cầu có đường kính là 11,5cm, bên ngoài được bọc băng dính màu trắng, phần dưới hình nón có chiều dài 8,6cm bằng giấy màu nâu, ở giữa cả 02 vật tả trên đều có gắn 02 dây dẫn điện màu nâu và màu trắng có chiều dài lần lượt là 47cm và 56 cm; 21 vật đều có đặc điểm phần trên hình bán cầu có đường kính 6,8cm bên ngoài được bọc băng dính màu trắng, phần dưới hình nón có chiều dài 6,2cm bằng giấy màu nâu trong đó: 07 vật ở giữa đều có gắn 01 đoạn dây dẫn màu trắng, xanh (dạng dây cháy chậm); 14 vật còn lại ở giữa đều có gắn 02 dây dẫn điện màu nâu và màu trắng để trong 01 thùng gỗ có kích thước 35cm x 25cm x 24cm gửi đến giám định đều là pháo hoa nổ (có chứa thuốc pháo; khi có tác động của xung kích thích cơ, nhiệt, hóa hoặc điện gây ra tiếng nổ và tạo ra hiệu ứng âm thanh, ánh sáng, màu sắc). Tổng khối lượng của 23 vật trên là 4,7kg.

01 bộ điều khiển gồm: 03 quả pin màu xanh, 01 bảng mạch nhận tín hiệu và 01 điều khiển để trong 01 túi niêm phong có mã số PS3A 104675. Nếu đấu dây dẫn điện của 03 vật trong 01 túi niêm phong có mã số PS3A 104676 vào bảng mạch nhận tín hiệu sau đó bấm nút điều khiển thì sẽ gây ra nổ. Cơ chế gây nổ là khi bấm nút điều khiển thì mạch điện đóng lúc này dây tóc gắn vào 2 sợi dây điện trong quả pháo bị nóng đỏ tạo ra nguồn nhiệt làm cháy thuốc phóng, thuốc phóng đẩy quả pháo lên cao đồng thời cháy dây ngòi pháo bên trong quả pháo, sau đó cháy thuốc pháo dẫn đến nổ.

2. Mẫu vật thu giữ của Nguyễn Văn C:

02 vật đều có đặc điểm phần trên hình bán cầu có đường kính 6,8cm bên ngoài được bọc băng dính màu trắng, phần dưới hình nón có chiều dài 6,2cm bằng giấy màu nâu, ở giữa cả 02 vật tả trên đều có gắn 02 dây dẫn điện màu nâu và màu trắng để trong 01 túi niêm phong có mã số PS3A 104662 gửi đến giám định đều là pháo hoa nổ (có chứa thuốc pháo; khi có tác động của xung kích thích cơ, nhiệt, hóa hoặc điện gây ra tiếng nổ và tạo ra hiệu ứng âm thanh, ánh sáng, màu sắc). Tổng khối lượng của 02 vật trên là 0,35kg.

03 vật đều có dạng hình trụ tròn trong đó: 01 vật hình trụ tròn cao 13,5cm, đường kính 6cm; bên ngoài được cuốn giấy màu hồng và băng dính màu trắng, hai đầu hình trụ được bịt kín bằng giấy có gắn keo, 01 đầu hình trụ được gắn dây dẫn màu xanh từ ngoài vào thân hình trụ; 01 vật hình trụ tròn cao 10cm, đường kính 5cm; bên ngoài được cuốn giấy màu đỏ và băng dính màu trắng, hai đầu hình trụ được bịt kín bằng giấy có gắn keo, 01 đầu hình trụ được gắn dây dẫn màu xanh từ ngoài vào thân hình trụ; 01 vật hình trụ tròn cao 9,5cm, đường kính 6,5cm; bên ngoài được cuốn giấy màu đỏ và băng dính màu trắng, hai đầu hình trụ được bịt kín bằng giấy có gắn keo, 01 đầu hình trụ được gắn dây dẫn màu xanh từ ngoài vào thân hình trụ để trong 01 túi niêm phong có mã số PS1A 067309 gửi giám định đều là pháo nổ (có chứa thuốc pháo, khi có tác động của xung kích thích cơ, nhiệt, hóa hoặc điện gây ra tiếng nổ). Tổng khối lượng của mẫu vật gửi giám định là: 0,85kg.

  • Chất bột màu trắng để bên trong 01 túi nilon màu trắng có khuy bấm bịt kín được niêm phong trong 01 túi niêm phong mã số: PS3A104663 gửi đến giám định là KNO3 (Kali nitrat). Khối lượng của mẫu vật gửi giám định là 0,25kg.

  • Chất bột, cục màu trắng để bên trong 01 túi nilon màu trắng có khuy bấm bịt kín được niêm phong trong 01 túi niêm phong mã số: PS3A104664 gửi đến giám định là KClO3 (Kali clorat). Khối lượng của mẫu vật gửi giám định là 0,15kg.

  • Chất bột màu trắng để bên trong 01 túi nilon màu trắng có khuy bấm bịt kín được niêm phong trong 01 túi niêm phong mã số: PS3A104665 gửi đến giám định là tinh bột gạo thành phần chủ yếu là amylose và amilopectin. Khối lượng của mẫu vật gửi giám định là 0,25kg.

  • Chất bột màu vàng để bên trong 01 túi nilon màu trắng có khuy bấm bịt kín được niêm phong trong 01 túi niêm phong mã số: PS3A104666 gửi đến giám định là S (Lưu huỳnh). Khối lượng của mẫu vật gửi giám định là 0,1kg.

  • Chất bột màu vàng nhạt để bên trong 01 túi nilon màu trắng có khuy bấm bịt kín được niêm phong trong 01 túi niêm phong mã số: PS3A104667 gửi đến giám định là KClO3 (Kali clorat); KNO3 (Kali nitrat) và S (Lưu huỳnh). Khối lượng của mẫu vật gửi giám định là 0,42kg.

  • Chất bột màu đen để bên trong 01 túi nilon màu trắng có khuy bấm bịt kín được niêm phong trong 01 túi niêm phong mã số: PS3A104668 gửi đến giám định tìm thấy C (Bột than). Khối lượng của mẫu vật gửi giám định là 0,08kg.

  • Vỏ chấu bám dính các chất màu đen để bên trong 01 túi nilon màu xanh được niêm phong trong 01 túi niêm phong mã số: PS3A104669 gửi đến giám định có tìm thấy KNO3 (Kali nitrat); C (Bột than) và S (Lưu huỳnh). Khối lượng của mẫu vật gửi giám định là 0,3kg.

  • Chất bột màu xám để bên trong 01 hộp nhựa màu trắng có nắp bịt kín màu hồng được niêm phong trong 01 túi niêm phong mã số: PS3A104670 gửi đến giám định có tìm thấy KClO3 (Kali clorat) và A (Bột nhôm). Khối lượng của mẫu vật gửi giám định là 0,05kg.

  • 11 đoạn dây dẫn có đường kính là 1cm, đoạn dài nhất có chiều dài 15cm để bên trong 01 hộp nhựa màu trắng có nắp bịt kín màu vàng được niêm phong trong 01 túi niêm phong mã số: PS1A067310 gửi đến giám định đều là dây ngòi pháo.

  • Các hạt màu đen để trong 01 hộp nhựa màu trắng có nắp bịt kín màu trắng được niêm phong trong 01 túi niêm phong mã số: PS1A067311 là thuốc phóng Khối lượng mẫu vật gửi giám định là: 0,6kg.

  • 11 vật có đặc điểm bên ngoài là giấy và băng dính màu trắng tạo thành ống, bên trong có 02 sợi dây dẫn màu đen, mỗi dây dài 58cm được niêm phong trong 01 túi niêm phong mã số: PS1A067312 gửi đến giám định đều là dây ngòi pháo.

  • 01 chày gỗ, có chiều dài 33cm và đường kính là 3,2cm, trên thân của chày gỗ có bám dính chất bột màu trắng, vàng, đen được niêm phong trong 01 túi niêm phong mã số: PS1A067313, các chất bám dính gồm KNO3 (Kali nitrat); C (Bột than) và S (Lưu huỳnh).

  • 01 bát sứ màu trắng cao 5,5cm, miệng bát đường kính 11cm, trong bát bám dính chất bột màu đen; 01 bát nhựa màu trắng cao 5,5cm, miệng bát 11cm, trong bát bám dính chất bột màu đen, cao 08cm, miệng bát đường kính 11cm, trong bát bám dính chất bột màu đen; 01 chiếc cối bằng kim loại màu ghi, cao 11cm, đường kính miệng cối 17m, trong cối bám dính chất bột màu đen; 01 vợt rây bột bằng kim loại dài 30cm, đường kính mặt rây 16m, trên mặt dây bám dính chất bột màu đen được niêm phong trong 01 hộp cát tông có kích thước 31cm x 23cm x13cm. Các vật dụng tả trên có bám dính chất KNO3 (Kali nitrat); C (Bột than); KClO3 (Kali clorat) và S (Lưu huỳnh).

  • 01 thiết bị tự chế, kích thước 30cm x 20cm x 14cm, đáy thiết bị bằng gỗ, thân thiết bị có mô tơ và dây dẫn điện, trên thân thiết bị gắn 01 trục quay gắn 01 lọ nhựa hình trụ màu trắng cao 19cm, đường kính đáy 10cm có thể tháo lắp, bên trong lọ nhựa chứa chất bột màu đen được niêm phong trong 01 hộp cát tông có kích thước 32cm x 25cm x 22cm Các vật dụng tả trên có bám dính chất KNO3 (Kali nitrat); C (Bột than); KClO3 (Kali clorat) và S (Lưu huỳnh).

3. Mẫu vật thu giữ của Nguyễn Mạnh T2

01 vật có đặc điểm phần trên hình bán cầu có đường kính 6,8cm bên ngoài được bọc băng dính màu trắng, phần dưới hình nón có chiều dài 6,2cm bằng giấy màu nâu, ở giữa vật có gắn dây dẫn điện màu xanh và màu trắng được niêm phong trong 01 túi niêm phong có mã số PS3A 104671 gửi đến giám định đều là pháo hoa nổ (có chứa thuốc pháo; khi có tác động của xung kích thích cơ, nhiệt, hóa hoặc điện gây ra tiếng nổ và tạo ra hiệu ứng âm thanh, ánh sáng, màu sắc). Khối lượng của vật trên là 0,17kg.

01 bộ điều khiển gồm: 02 quả pin màu vàng, 01 bảng mạch nhận tín hiệu và 01 bộ điều khiển để trong 01 túi niêm phong có mã số PS3A 104672. Nếu đấu dây dẫn điện của 01 vật trong 01 túi niêm phong có mã số PS3A 104671 vào bảng mạch nhận tín hiệu sau đó bấm nút điều khiển thì sẽ gây ra nổ. Cơ chế gây nổ là khi bấm nút điều khiển thì mạch điện đóng lúc này dây tóc gắn vào 2 sợi dây điện trong quả pháo bị nóng đỏ tạo ra nguồn nhiệt làm cháy thuốc phóng, thuốc phóng đẩy quả pháo lên cao đồng thời cháy dây ngòi pháo bên trong quả pháo, sau đó cháy thuốc pháo dẫn đến nổ.

  • Các chất KNO3 (Kali nitrat); C (Bột than); KClO3 (Kali clorat); S (Lưu huỳnh); hỗn hợp chất KClO3 (Kali clorat) và A (Bột nhôm) gửi đến giám là thành phần chính của thuốc pháo nổ và pháo hoa nổ.

  • Các chất bột, hạt gửi đến giám định cùng với dụng cụ phương tiện gửi đến giám định có thể sản xuất, chế tạo pháo nổ và pháo hoa nổ.

Pháo hoa nổ và pháo nổ được quy định tại Chương I, Điều 3, Khoản 1, điểm a của Nghị định số 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính Phủ về quản lý và sử dụng pháo.

Thuốc pháo nổ được quy định được quy định tại Chương I, Điều 3, Khoản 2, điểm a của Nghị định số 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính Phủ về quản lý và sử dụng pháo”.

Như vậy, tổng khối lượng pháo hoa nổ và pháo nổ mà C đã sản xuất (bao gồm số pháo C tự sản xuất và cùng K sản xuất) bị thu giữ là 6,52kg.

Về vật chứng:

Đối với chiếc hàn thiếc mà Dương Văn K dùng để hàn các ngòi dẫn điện cùng chiếc điện thoại di động K dùng để đặt mua, nhận các vật, chất để sản xuất pháo cũng như chiếc điện thoại T2 sử dụng để liên lạc mua pháo của K do cả K và T2 đều đã vứt bỏ, không biết ở đâu nên không thu giữ được.

Hiện đang tạm giữ đối với số tiền 400.000₫ của Nguyễn Mạnh T2 tự nguyện giao nộp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus lắp sim số 0348330096 của Nguyễn Văn C; 01 xe mô tô biển số 19E1-309.09, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11pro Max lắp 02 sim thuê bao số 0343923000 và số 0369372874 cùng 01 túi giả da của Dương Văn K cũng như toàn bộ số pháo hoa nổ, pháo nổ và các vật, chất, công cụ để sản xuất, kích nổ pháo hoa nổ, pháo nổ thu giữ của K, C, T2 hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 01 thùng giấy, 01 thùng gỗ và 02 thùng carton. (Các vật chứng hiện tạm giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng)

Tại bản Cáo trạng số: 05/CT - VKSĐH ngày 10/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Sản xuất hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử::

  1. Về trách nhiệm hình sự:

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1,2,5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.

    Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Sản xuất hàng cấm"

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 24/01/2025.

    Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho UBND xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Về xử lý vật chứng:

    Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    • Tịch thu để tiêu hủy toàn bộ số pháo hoa nổ, pháo nổ và các vật, chất, công cụ để sản xuất, kích nổ pháo hoa nổ, pháo nổ thu giữ của K, C, T2 hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 01 thùng giấy, 01 thùng gỗ và 02 thùng carton.

    • Tịch thu tiêu huỷ 01 túi giả da hình chữ nhật, màu đen- xám của Dương Văn K đã cũ không còn giá trị sử dụng; 01 thẻ sim số 0348330096 của Nguyễn Văn C.

    • Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus của Nguyễn Văn C;

    • Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 400.000₫ của Nguyễn Mạnh T2 tự nguyện giao nộp;

    • Trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner màu sơn đen vàng đồng biển số 19E1-309.09; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11pro Max lắp sim thuê bao số 0343923000 và số 0369372874 cho anh Dương Văn K.

    (Các vật chứng hiện tạm giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng).

  3. Về án phí:

    Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn C không tranh luận, không bào chữa gì, thừa nhận và ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng hình sự: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Đ; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ buộc tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng tháng 10/2024, tại gian bếp của gia đình ở khu D, xã M, (nay là xã Y), huyện Đ, Nguyễn Văn C đã có hành vi sản xuất 31 quả pháo hoa nổ và 03 quả pháo nổ là hàng cấm (trong đó có 24 quả pháo hoa nổ sản xuất cùng với Dương Văn K), nhằm mục đích để sử dụng đốt vào dịp Tết Nguyên đán. Số pháo hoa và pháo hoa nổ do C sản xuất đã thu giữ được là 6,52kg, (trong đó pháo hoa nổ là 5,67kg, pháo nổ là 0,85kg).

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sản xuất hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.

Điểm c Khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự quy định:

“1.Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;”

Do vậy, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng đối với bị cáo Nguyễn Văn C là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi Sản xuất hàng cấm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, là khách thể được pháp luật bảo vệ. Việc bị cáo tự chế tạo pháo nổ và pháo hoa nổ có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của con người hoặc những thiệt hại về tài sản cho xã hội, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương

Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hậu quả của hành vi, nhưng bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

[4] Về nhân thân, về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo phạm tội lần đầu, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo từng tham gia quân đội, luôn chấp hành tốt chủ trương đường lối chính sách của đảng. Bị cáo tích cực tham gia phong trào tại địa phương, tham gia phòng chống lụt bão được UBND xã ghi nhận; đã tích cực đóng góp ủng hộ quỹ vì người nghèo do địa phương phát động. Do vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, do vậy, cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng là áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo với mức khởi điểm của khung hình phạt đối với bị cáo cũng đủ răn đe và tạo điều kiện để bị cáo tự cải tạo trở thành người công dân tốt cho xã hội mà không cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 190 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Tuy nhiên, kết quả xác minh của Cơ quan điều tra và lời trình bày tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với toàn bộ số pháo hoa nổ, pháo nổ và các vật, chất, công cụ để sản xuất, kích nổ pháo hoa nổ, pháo nổ thu giữ của K, C, T2 hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 01 thùng giấy, 01 thùng gỗ và 02 thùng carton là vật cấm nên cần tịch thu để tiêu hủy.

  • Đối với điện thoại di động tạm giữ của Nguyễn Văn C, do C đã sử dụng liên lạc mua các vật, chất để sản xuất pháo cũng như tìm hiểu, xem hướng dẫn để sản xuất pháo, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

  • Đối với thẻ sim 0348330096 thu giữ của C do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.

  • Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner màu sơn đen vàng đồng biển số 19E1-309.09 thu giữ của anh Dương Văn K do chỉ sử dụng làm phương tiện đi lại cùng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11pro Max lắp sim thuê bao số 0343923000 và số 0369372874 anh K sử dụng làm phương tiện liên lạc hàng ngày, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho anh K.

  • Đối với 01 túi giả da hình chữ nhật, màu đen - xám của anh Dương Văn K sử dụng để đựng pháo, do đã cũ không còn giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu hủy.

  • Đối với số tiền 400.000 đồng do anh T2 tự nguyện giao nộp là tiền sử dụng mua pháo hoa nổ nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

[9] Đối với các nội dung khác:

Về nguồn gốc số vật, chất mà Nguyễn Văn C và Dương Văn K đã đặt mua trên sàn giao dịch điện tử Tiktok, sau khi mua một thời gian, C đã xóa ứng dụng; điện thoại của K bị hỏng, đã vứt bỏ, cả hai đều không nhớ mua của shop nào nên không có căn cứ làm rõ người đã bán các vật, chất để sản xuất pháo cho C và K là ai, ở đâu nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định pháp luật.

Đối với Dương Văn K, quá trình điều tra chỉ có căn cứ chứng minh K cùng C sản xuất tổng số 24 quả pháo hoa nổ. Việc C mua các vật, chất gì để sản xuất pháo, mua số lượng bao nhiêu, K đều không biết. Ở cả hai lần cùng nhau sản xuất pháo, C đều đã làm sẵn “nhân trấu”, K không nhìn thấy C trộn, không biết C đã sử dụng hết số nguyên liệu đã mua hay chưa. Đối với số pháo hoa nổ C tự sản xuất thêm, đến ngày 05/11/2024, khi kiểm đếm K mới biết. Về số pháo nổ có tổng khối lượng là 0,85kg do C tự sản xuất, không nói cho K biết nên không có căn cứ buộc K phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số pháo nổ này. Xét thấy, khối lượng pháo hoa nổ mà K cùng C sản xuất cũng như số pháo mà K tàng trữ đều dưới 06kg, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý hình sự đối với K với vai trò đồng phạm với C về tội Sản xuất hàng cấm cũng không xử lý hình sự đối với K về tội Tàng trữ hàng cấm mà chuyển xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.

Đối với hành vi bán trái phép 03 quả pháo hoa nổ cho Nguyễn Mạnh T2 của Dương Văn K, do chỉ thu giữ được 01 quả pháo hoa nổ có khối lượng là 0,17kg, nên hành vi của K không cấu thành tội Buôn bán hàng cấm, Cơ quan điều tra chuyển xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.

Đối với hành vi tàng trữ 01 quả pháo hoa nổ có khối lượng 0,17 kg của Nguyễn Mạnh T2, do khối lượng pháo hoa nổ T2 tàng trữ dưới 06kg nên hành vi của T2 không cấu thành tội Tàng trữ hàng cấm, Cơ quan điều tra chuyển xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.

Đối với việc C sản xuất, tàng trữ pháo hoa nổ, pháo nổ tại nhà, chị Trần Thị H là vợ của C không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của C nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị H là đúng quy định pháp luật.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1,2,5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về trách nhiệm hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Sản xuất hàng cấm”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 24/01/2025.

    Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho UBND xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu để tiêu hủy:

    • + 01 thùng giấy kích thước 15 x 20,5cm x 31cm, được dán kín các mép dán, mặt trên thùng giấy dán tem niêm phong ghi "Vật chứng không bám dính, thu giữ của Nguyễn Văn C ngày 12/11/2024 tại xã M, huyện Đ" có có 05 chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và dấu tròn của Công an xã M, huyện Đ.

    • + 01 (một) thùng gỗ có kích thước 35cm x 25cm x 24cm, bên ngoài được niêm phong dán kín bằng băng dính màu trắng và 04 giấy niêm phong trên mỗi giấy dán niêm phong đều có 05 chữ ký và 02 hình dấu màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh P.

    • + 01 (một) thùng carton có kích thước 32cm x 25cm x 22cm, bên ngoài được niêm phong dán kín bằng băng dính màu trắng và 04 giấy niêm phong trên mỗi giấy dán niêm phong đều có 05 chữ ký và 02 hình dấu màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh P.

    • + 01 (một) thùng carton có kích thước 22cm x 25cm x 45cm, bên ngoài được niêm phong dán kín bằng băng dính màu trắng và 04 giấy niêm phong trên mỗi giấy dán niêm phong đều có 05 chữ ký và 02 hình dấu màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh P.

    • - Tịch thu để tiêu hủy: 01 (một) túi giả da hình chữ nhật, màu đen - xám, kích thước: 23cm x 18cm x 0,6cm, có séc khoá bằng kim loại màu trắng dài 25cm ở miệng túi, túi có quai đeo bằng vải mềm màu đen, chiều dài 100cm, chiều rộng 03cm được may cố định vào thân túi của Dương Văn K; 01 thẻ sim số 0348330096 của Nguyễn Văn C.

    • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, số IMEI: 353807080154264, dung lượng 128GB, điện thoại đã qua sử dụng của Nguyễn Văn C;

    • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 400.000₫ của Nguyễn Mạnh T2 tự nguyện giao nộp;

    • - Trả lại cho anh Dương Văn K: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, màu sơn đen vàng đồng, biển số 19E1- 309.09, số máy: KC34E1261759, số khung: RLHKC3712MY127615, xe đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11pro Max, màu xanh, số IMEI 1: 353948102762211, số IMEI 2: 3353948102664227, dung lượng 64GB, lắp sim thuê bao số 0343923000 và số 0369372874, điện thoại đã qua sử dụng

    (Các vật chứng được miêu tả cụ thể tại Quyết định chuyển vật chứng, ngày 10/01/2025 và biên bản giao nhận vật chứng, ngày 10/01/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng)

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

    Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (có mặt) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) có quyền kháng cáo trọng hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Duyên

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;

  • - Người có QLNVLQ;

  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;

  • - VKS ND tỉnh Phú Thọ;

  • - VKS ND huyện Đoan Hùng;

  • - Công an huyện Đoan Hùng;

  • - UBND xã Yên Kiện;

  • - Chi cục THADS huyện Đoan Hùng;

  • - Lưu HSVA; VP

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự - tội sản xuất hàng cấm

  • Số bản án: 03/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Sản xuất hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội sản xuất hàng cấm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger