Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

--------------

Bản án số: 03/2025/DS-ST.

Ngày 23/01/2025.

V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Ngọc Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Ngân;
Bà Vũ Thị Hòa;
Thư ký phiên toà: Ông Vũ Anh Tùng – Thư ký, Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 104/2024/TLST-DS, ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-DS, ngày 03 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

Chị Khương Thị Minh T – Sinh năm 2005. Địa chỉ: Tổ A, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Khương Thị Minh T là ông Nguyễn Quốc H – Sinh năm: 1974. Địa chỉ: Số nhà C, đường H, tổ F, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai, (Theo văn bản uỷ quyền ngày 28/11/2023, có mặt).

Bị đơn:

Bà Phạm Thị N – Sinh năm 1956. Địa chỉ: Xóm I, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ngân hàng N2

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Chức danh: Tổng Giám đốc.

    Địa chỉ: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo ủy quyền lại: Bà Nguyễn Thị Phương T1 – Chức danh: Phó Giám đốc Ngân hàng N2 – Chi nhánh C1, (Có mặt).

  2. Bà Đỗ Thị L – Sinh năm 1982.

    Địa chỉ: Tổ A, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

  3. Cháu Khương Tuấn H1 – Sinh năm 2009.

    Địa chỉ: Tổ A, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

  4. Cháu Khương Đức T2 – Sinh năm 2015.

    Địa chỉ: Tổ A, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

    Người đại diện theo pháp luật của cháu Khương Tuấn H1 và cháu Khương Đức T2 là bà Đỗ Thị L (Mẹ đẻ).

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Đỗ Thị L là ông Nguyễn Quốc H – Sinh năm: 1974. Địa chỉ: Số nhà C, đường H, tổ F, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai, (Theo văn bản uỷ quyền ngày 28/11/2023, có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện nộp ngày 23 tháng 8 năm 2024 và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn chị Khương Thị Minh T là ông Nguyễn Quốc H trình bầy: Ông Khương Văn T3 và bà Đỗ Thị L là bố mẹ đẻ của chị Khương Thị Minh T. Trong quá trình chung sống, ông Khương Văn T3 và bà Đỗ Thị L có 03 người con chung là chị Khương Thị Minh T, sinh ngày 13/11/2005, anh Khương Tuấn H1, sinh ngày 17/7/2009 và anh Khương Đức T2, sinh ngày 09/7/2015. Đến ngày 26 tháng 10 năm 2022 thì ông Khương Văn T3 ly hôn với bà Đỗ Thị L. Khi ly hôn ông Khương Văn T3 và bà Đỗ Thị L chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ hôn nhân và việc nuôi con khi ly hôn, phần tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản ông Khương Văn T3 và bà Đỗ Thị L chưa yêu cầu giải quyết. Ngày 04 tháng 6 năm 2023 ông Khương Văn T3 chết không để lại di chúc.

Tài sản chung của ông Khương Văn T3 và bà Đỗ Thị L: Trong quá trình chung sống có 01 căn nhà xây cấp 4 gồm 02 tầng, xây dựng trên thửa đất số 41, tờ bản đố số P11-5, diện tích 96,6 m² đất ở đô thị, tại số nhà D, đường Đ, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

Nghĩa vụ chung về tài sản của ông Khương Văn T3 và bà Đỗ Thị L: Ngày 15/08/2022 ông Khương Văn T3 và bà Đỗ Thị L đã thế chấp quyền sử dụng diện tích 96,6 m² đất ở đô thị, thửa đất số 41, tờ bản đồ số P11-5 và tài sản trên đất tại số nhà D, đường Đ, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai cho Ngân hàng N2 - Chi nhánh C1, tỉnh Lào Cai để đảm bảo thực hiện vay số tiền 1.300.000.000VNĐ theo hợp đồng tín dụng số 8811LAV202200539.

Sau khi ông Khương Văn T3 chết, chị Khương Thị Minh T, bà Đỗ Thị L và bà Phạm Thị N là mẹ đẻ của ông Khương Văn T3 không thống nhất được việc xử lý tài sản thế chấp để trả nợ khoản vay chung của ông Khương Văn T3 và bà Đỗ Thị L cho Ngân hàng N2 - Chi nhánh C1, tỉnh Lào Cai. Do đó, chị Khương Thị Minh T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giải quyết chia di sản thừa kế của ông Khương Văn T3 để thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết là ông Khương Văn T3 để lại là (Khoản tiền vay chung của ông Khương Văn T3 và bà Đỗ Thị L tại Ngân hàng N2 - Chi nhánh C1, tỉnh Lào Cai tổng số tiền tính đến hết ngày xét xử sơ thẩm 23/01/2025 là: 1.416.848.241VNĐ và khoản tiền bà Đỗ Thị L đã trả gốc và lãi suất thay ông Khương Văn T3 kể từ khi ông Khương Văn T3 chết đến ngày 22/02/2024 là 54.163.946VNĐ). Phần di sản của ông Khương Văn T3 còn lại sau khi thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, đề nghị chia thừa kế theo quy định của pháp luật cho 04 người thuộc diện thừa kế là bà Phạm Thị N, chị Khương Thị Minh T, anh Khương Tuấn H1 và anh Khương Đức T2. Chị Khương Thị Minh T có ý kiến xin được giao quyền sử dụng diện tích 96,6 m² đất ở đô thị, thửa đất số 41, tờ bản đố số P11-5 và được giao quyền sở hữu tài sản trên đất là 01 căn nhà xây cấp 4, 02 tầng tại số nhà D, đường Đ, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Chị Khương Thị Minh T sẽ có nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền dư nợ gốc và khoản tiền lãi suất cho Ngân hàng N2 - Chi nhánh C1, tỉnh Lào Cai; khoản tiền giá trị về tài sản của bà Đỗ Thị L trong khối tài sản chung với ông Khương Văn T3; khoản tiền bà Đỗ Thị L đã thực hiện thay nghĩa vụ cho ông Khương Văn T3 trả nợ ngân hàng và thực hiện hoàn trả các kỷ phần trong phần di sản thừa kế của ông Khương Văn T3 để lại cho những người được thừa kế theo quy định của pháp luật.

Trong nội dung biên bản lấy lời khai ngày 09 tháng 12 năm 2024, bị đơn bà Phạm Thị N trình bầy: Bà Phạm Thị N có quan hệ là mẹ đẻ của anh Khương Văn T3, là mẹ chồng của chị Đỗ Thị L và là bà nội của các cháu Khương Thị Minh T, cháu Khương Tuấn H1 và cháu Khương Đức T2. Chồng bà Phạm Thị N là ông Khương Mạnh H2 và là bố đẻ của anh Khương Văn T3 đã chết vào năm 2019 (Chết trước anh Khương Văn T3). Anh Khương Văn T3 và chị Đỗ Thị L có 03 người con chung là cháu Khương Thị Minh T4, cháu Khương Tuấn H1 và cháu Khương Đức T2. Anh Khương Văn T3 không có bố mẹ nuôi, con nuôi và con riêng nào khác theo quy định của pháp luật. Hiện nay cháu Khương Thị Minh T khởi kiện yêu câu yêu cầu chia di sản thừa kế của anh Khương Văn T3 là quyền sử dụng diện tích 96,6 m² đất ở đô thị, thửa đất số 41, tờ bản đố số P11-5 và tài sản trên đất tại số nhà D, đường Đ, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai và yêu cầu của Ngân hàng N2 yêu cầu bà Đỗ Thị L và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của anh Khương Văn T3 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả khoản tiền gốc và lãi suất mà anh Khương Văn T3 và chị Đỗ Thị L đã vay. Bà Phạm Thị N đồng ý xử lý tài sản đảm bảo đã thế chấp để hoàn trả khoản tiền anh Khương Văn T3 và chị Đỗ Thị L đã vay của Ngân hàng N2 và phát triên nông thôn Việt Nam. Sau khi xử lý tài sản bảo đảm, phần di sản của anh Khương Văn T3 còn lại bà Phạm Thị N đồng ý chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật. Bà Phạm Thị N không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Trong đơn yêu cầu và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N2 là bà Nguyễn Thị Phương T1 đều trình bày: Ngày 15/08/2022 Ngân hàng N2 - Chi nhánh C1, tỉnh Lào Cai với bà Đỗ Thị L và ông Khương Văn T3 có giao kết hợp đồng tín dụng số 8811LAV202200539, nội dung thỏa thuận: Ngân hàng N2 - Chi nhánh C1, tỉnh Lào Cai cho bà Đỗ Thị L và ông Khương Văn T3 vay số tiền là: 1.300.000.000VNĐ. Mục đích vay vốn để kinh doanh dịch vụ giải khát, thời hạn cho vay là 12 tháng, lãi suất cho vay áp dụng theo từng lần nhận nợ, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, phương thức trả lãi tiền vay hàng tháng. Để đảm bảo cho nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong các hợp đồng tín dụng, Ngân hàng N2 - Chi nhánh C1 và bà Đỗ Thị L, ông Khương Văn T3 đã ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 06/2015 ngày 24/06/2015 và các văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp kèm theo. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất 96,6m², quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, đã được Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng số: BO 546379 ngày 12/12/2013. Địa chỉ tại số nhà D, đường Đ, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

Sau khi ông Khương Văn T3 chết, từ tháng 7/2023 đến tháng 02/2024 bà Đỗ Thị L đã trả cho Ngân hàng N2 - Chi nhánh C1 tổng số tiền gốc và lãi suất là: 108.327.892VNĐ. Từ ngày 22/02/2024 đến nay bà Đỗ Thị L đã vi phạm cam kết trả nợ, không thực hiện trả nợ gốc, lãi suất theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng. Vì vậy, Ngân hàng N2 đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, khi chia di sản thừa kế của ông Khương Văn T3 thì phải buộc bà Đỗ Thị L và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Khương Văn T3 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho Ngân hàng N2 toàn bộ số tiền dư nợ tính đến hết ngày xét xử sơ thẩm 23/01/2025, tổng cộng là: 1.416.848.241VNĐ. Trong đó, dư nợ gốc: 1.271.300.000VNĐ, dự nợ lãi suất là: 145.548.241VNĐ.

Buộc bà Đỗ Thị L và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Khương Văn T3 phải tiếp tục trả lãi suất phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: 8811LAV202200539 ngày 15/08/2022 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ hoàn trả. Nếu bà Đỗ Thị L và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Khương Văn T3 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N2 có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản của ông Khương Văn T3 và bà Đỗ Thị L đã thế chấp để thu hồi khoản dư nợ theo quy định của pháp luật.

Ngân hàng N2 đề nghị, trong quá trình phân chia di sản thừa kế của ông Khương Văn T3, khi giao tài sản đã thế chấp là quyền sử dụng diện tích 96,6 m² đất ở đô thị, thửa đất số 41, tờ bản đồ số P11-5 và tài sản trên đất tại số nhà D, đường Đ, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai cho người nào thì người đó phải thực hiện thay nghĩa vụ trả các khoản dư nợ theo quy định của pháp luật.

Trong đơn yêu cầu và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị L, đồng thời là người đại diện theo pháp luật của cháu Khương Tuấn H1 và cháu Khương Đức T2 là ông Nguyễn Quốc H trình bày: Bà Đỗ Thị L đăng ký kết hôn với ông Khương Văn T3 ngày 04 tháng 3 năm 2005. Trong quá trình chung sống bà Đỗ Thị L và ông Khương Văn T3 có 03 người con chung là chị Khương Thị Minh T, sinh ngày 13/11/2005, cháu Khương Tuấn H1, sinh ngày 17/7/2009 và cháu Khương Đức T2, sinh ngày 09/07/2015. Bà Đỗ Thị L và ông Khương Văn T3 có tạo dựng được một khối tài sản chung là 01 căn nhà xây cấp 4, 02 tầng, xây dựng trên thửa đất số 41, tờ bản đố số P11-5, có diện tích 96,6 m² đất ở đô thị, đã được Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng số: BO 546379 ngày 12/12/2013. Địa chỉ tại số nhà D, đường Đ, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai, mang tên đăng ký biến động ông Khương Văn T3 và bà Đỗ Thị L. Ngày 15/08/2022 bà Đỗ Thị L và ông Khương Văn T3 có ký hợp đồng tín dụng với ngân hàng N2 – Chi nhánh C1 để vay số tiền 1.300.000.000VNĐ. Tài sản thế chấp để bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng đất 96,6m² đất ở đô thị và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, đã được Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng số: BO 546379 ngày 12/12/2013. Địa chỉ tại số nhà D, đường Đ, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Ngày 26 tháng 10 năm 2022, bà Đỗ Thị L và ông Khương Văn T3 ly hôn theo Quyết định của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Đến ngày 04/6/2023 ông Khương Văn T3 chết, từ khi ông Khương Văn T3 chết thì bà Đỗ Thị L là người trả khoản nợ gốc và lãi suất cho Ngân hàng N2 – Chi nhánh C1 đối với khoản vay chung của bà Đỗ Thị L và ông Khương Văn T3. Đến nay chị Khương Thị Minh T khởi kiện chia di sản thừa kế của ông Khương Văn T3, bà Đỗ Thị L là người đại diện theo pháp luật của cháu Khương Tuấn H1 và cháu Khương Đức T2 đồng ý chia di sản thừa kế của ông Khương Văn T3 trên cơ sở phải hoàn trả toàn bộ khoản dư nợ chung của bà Đỗ Thị L và ông Khương Văn T3 tại Ngân hàng N2 – Chi nhánh C1 tính đến ngày 23/01/2025 là 1.416.848.241VNĐ và phải trả lại cho bà Đỗ Thị L khoản tiền gốc và lãi suất mà bà Đỗ Thị L đã trả nợ thay cho ông Khương Văn T3 từ tháng 7/2023 đến ngày 22/02/2024 theo xác định của ngân hàng là 54.163.946VNĐ và khoản tiền giá trị về tài sản trong khối tài sản chung với ông Khương Văn T3.

Tại phiên toà, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị L (Người đại diện theo pháp luật của cháu Khương Tuấn H1 và cháu Khương Đức T2) đồng ý khi chia di sản thừa kế của ông Khương Văn T3, giao cho chị Khương Thị Minh T được quyền sử dụng diện tích 96,6 m² đất ở đô thị, thửa đất số 41, tờ bản đồ số P11-5 và được quyền sở hữu tài sản trên đất là 01 căn nhà xây cấp 4, 02 tầng tại số nhà D, đường Đ, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Chị Khương Thị Minh T có nghĩa vụ thực hiện hoàn trả toàn bộ khoản tiền dư nợ gốc và khoản tiền lãi suất cho Ngân hàng N2, hoàn trả cho bà Đỗ Thị L khoản tiền gốc và lãi suất mà bà Đỗ Thị L đã trả thay cho ông Khương Văn T3 từ tháng 7/2023 đến tháng 02/2024 cho Ngân hàng N2, khoản tiền giá trị về tài sản trong khối tài sản chung với ông Khương Văn T3 và thực hiện hoàn trả các kỷ phần trong phần di sản thừa kế của ông Khương Văn T3 để lại cho những người được thừa kế là bà Phạm Thị N, anh Khương Tuấn H1 và anh Khương Đức T2.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, tham gia phiên toà, phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng tại phiên toà là đúng theo các quy định của pháp luật, đảm bảo đúng trình tự luật định, không vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ đảm bảo đúng pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng khoản 1, 2, Điều 147; Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 33; Điều 37; khoản 2, Điều 66 Luật Hôn nhân và Gia đình. Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng. Điều 463; Điều 466; Điều 470; Điều 612; Điều 613; Điều 615; Điều 649; Điều 650; Điều 651, Điều 660 Bộ luật dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Khương Thị Minh T. Giao cho chị Khương Thị Minh T được quyền sử dụng diện tích 96,6 m² đất ở đô thị, thửa đất số 41, tờ bản đố số P11-5 và được quyền sở hữu tài sản trên đất là 01 căn nhà xây cấp 4, 02 tầng tại số nhà D, đường Đ, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Chị Khương Thị Minh T có nghĩa vụ thực hiện hoàn trả toàn bộ khoản tiền dư nợ gốc và khoản tiền lãi suất cho Ngân hàng N2 đến ngày xét xử. Chị Khương Thị Minh T có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Đỗ Thị L khoản tiền gốc và lãi suất mà bà Đỗ Thị L đã trả thay cho ông Khương Văn T3 từ tháng 7/2023 đến tháng 02/2024 cho Ngân hàng N2, khoản tiền giá trị về tài sản trong khối tài sản chung với ông Khương Văn T3 và thực hiện hoàn trả các kỷ phần trong phần di sản thừa kế của ông Khương Văn T3 để lại cho những người được thừa kế là bà Phạm Thị N, anh Khương Tuấn H1 và anh Khương Đức T2 theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra còn đề nghị tuyên lãi suất chậm trả, tuyên nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn bà Phạm Thị N đã được Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2, Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Khương Thị Minh T là con đẻ của ông Khương Văn T3. Ngày 04 tháng 6 năm 2023 ông Khương Văn T3 chết không để lại di chúc. Ông Khương Văn T3 có phần tài sản trong khối tài sản chung với bà Đỗ Thị L. Căn cứ theo điểm a, khoản 1, Điều 651 Bộ luật dân sự, chị Khương Thị Minh T là người được thừa kế tài sản của ông Khương Văn T3. Chị Khương Thị Minh T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giải quyết chia di sản thừa kế của ông Khương Văn T3. Việc tranh chấp giữa nguyên đơn, chị Khương Thị Minh T và bị đơn bà Phạm Thị N1 là “Tranh chấp về thừa kế tài sản” (Theo quy định tại khoản 5, Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự).

Di sản thừa kế của ông Khương Văn T3 để lại có trong khối tài sản chung với bà Đỗ Thị L là quyền sử dụng diện tích 96,6 m² đất ở đô thị, thửa đất số 41, tờ bản đồ số P11-5 và tài sản trên đất tại số nhà D, đường Đ, thuộc phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai (Nơi có bất động sản). Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Khương Thị Minh T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

[3]. Về nội dung tranh chấp: Nguyên đơn chị Khương Thị Minh T khởi kiện bà Phạm Thị N (Là mẹ đẻ của ông Khương Văn T3) yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Khương Văn T3 để thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết là ông Khương Văn T3 để lại. Phần di sản của ông Khương Văn T3 còn lại, đề nghị chia thừa kế theo quy định của pháp luật. Chị Khương Thị Minh T có ý kiến xin được giao quyền sử dụng diện tích 96,6 m² đất ở đô thị, thửa đất số 41, tờ bản đồ số P11-5 và được giao quyền sở hữu tài sản trên đất là 01 căn nhà xây cấp 4, 02 tầng tại số nhà D, đường Đ, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Chị Khương Thị Minh T sẽ có nghĩa vụ thực hiện hoàn trả toàn bộ khoản tiền dư nợ gốc và khoản tiền lãi suất cho Ngân hàng N2, hoàn trả các nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại và thực hiện hoàn trả các kỷ phần trong phần di sản thừa kế của ông Khương Văn T3 để lại cho những người được thừa kế theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bà Đỗ Thị L và ông Khương Văn T3 có quan hệ là vợ chồng đăng ký kết hôn vào ngày 04 tháng 3 năm 2005. Trong quá trình chung sống bà Đỗ Thị L và ông Khương Văn T3 có 03 người con chung là chị Khương Thị Minh T, sinh ngày 13/11/2005, cháu Khương Tuấn H1, sinh ngày 17/7/2009 và cháu Khương Đức T2, sinh ngày 09/07/2015. Quan hệ hôn nhân của bà Đỗ Thị L và ông Khương Văn T3 chấm dứt theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số: 100/2022/QÐST-HNGĐ ngày 26/10/2022 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Trong quá trình chung sống bà Đỗ Thị L và ông Khương Văn T3 có tạo dựng được một khối tài sản chung là 01 căn nhà xây cấp 4, 02 tầng, xây dựng trên thửa đất số 41, tờ bản đồ số P11-5, có diện tích 96,6 m² đất ở đô thị, đã được Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng số: BO 546379 ngày 12/12/2013, mang tên đăng ký biến động ông Khương Văn T3 và bà Đỗ Thị L. Địa chỉ tại số nhà D, đường Đ, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

Ngày 15/08/2022 bà Đỗ Thị L và ông Khương Văn T3 có ký hợp đồng tín dụng với ngân hàng N2 – Chi nhánh C1 để vay số tiền 1.300.000.000VNĐ. Tài sản thế chấp để bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng đất 96,6m² đất ở đô thị và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, đã được Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng số: BO 546379 ngày 12/12/2013, mang tên đăng ký biến động ông Khương Văn T3 và bà Đỗ Thị L. Địa chỉ tại số nhà D, đường Đ, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Đến ngày 04/6/2023 ông Khương Văn T3 chết không để lại di chúc, phần nghĩa vụ về tài sản do người chết là ông Khương Văn T3 để lại ½ khoản tiền dư nợ gốc và lãi suất tại ngân hàng N2 – Chi nhánh C1; khoản tiền bà Đỗ Thị L thực hiện hoàn trả dư nợ gốc và lãi suất cho ngân hàng sau khi ông Khương Văn T3 chết. Phần tài sản của ông Khương Văn T3 để lại là ½ giá trị tài sản trong khối tài sản chung với bà Đỗ Thị L là quyền sử dụng diện tích 96,6 m² đất ở đô thị, thửa đất số 41, tờ bản đố số P11-5 và tài sản trên đất là 01 căn nhà xây cấp 4, 02 tầng tại số nhà D, đường Đ, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

Khoản tiền vay chung của bà Đỗ Thị L và ông Khương Văn T3, từ ngày 22/02/2024 đến nay người vay tài sản là bà Đỗ Thị L và ông Khương Văn T3 đã vi phạm nghĩa vụ hoàn trả. Do đó, Ngân hàng N2 yêu cầu bà Đỗ Thị L và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Khương Văn T3 phải hoàn trả khoản dư nợ là có căn cứ pháp lý.

Tại biên bản định giá tài sản ngày 26/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng – Uỷ ban nhân thành phố L, tỉnh Lào Cai, xác định: Quyền sử dụng thửa đất thổ cư số 41, tờ bản đồ số P11-5, diện tích 96,6m² (4,83m x 20m), đất ở đô thị, địa chỉ tại số nhà D đường Đ, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai có giá trị là: 1.642.200.000VNĐ. Tài sản trên đất là 01 căn nhà 02 tầng, kết cấu khung bê tông cốt thép chịu lực, tường bao xây gạch 110mm, hệ thống điện nước thông dụng, có giá trị là: 503.102.600VNĐ. Tổng giá trị tài sản là: 2.145.302.600VNĐ (Hai tỷ một trăm bốn mươi lăm triệu ba trăm linh hai nghìn sáu trăm đồng).

+ Tổng giá trị tài sản chung của bà Đỗ Thị L và ông Khương Văn T3 là: 2.145.302.600VNĐ. Phần giá trị tài sản của ông Khương Văn T3 là: 1.072.651.300VNĐ.

+ Khoản dư nợ chung của bà Đỗ Thị L và ông Khương Văn T3 tại Ngân hàng N2 – Chi nhánh C1 tính đến ngày 23/01/2025 là: 1.416.848.241VNĐ. Phần nghĩa vụ về tài sản do ông Khương Văn T3 để lại là: 708.424.120VNĐ.

+ Tổng khoản tiền bà Đỗ Thị L đã trả dư nợ gốc và lãi suất cho Ngân hàng N2 – Chi nhánh C1, trong đó có khoản tiền trả nợ thay cho ông Khương Văn T3 từ tháng 7/2023 (Sau khi ông Khương Văn Thịnh C) đến ngày 22/02/2024 là: 108.327.892VNĐ. Phần nghĩa vụ về tài sản do ông Khương Văn T3 để lại là: 54.163.946VNĐ.

Phần giá trị tài sản của bà Đỗ Thị L trong khối tài sản chung với ông Khương Văn T3 là: 1.072.651.300VNĐ - 708.424.120VNĐ + 54.163.946VNĐ = 418.391.126VNĐ (Bốn trăm mười tám triệu ba trăm chín mươi một nghìn một trăm hai mươi sáu đồng).

Như vậy, phần di sản thừa kế của ông Khương Văn T3 còn lại được xác định trên cơ sở phần giá trị tài sản trong khối tài sản chung với bà Đỗ Thị L thực hiện phần nghĩa vụ về tài sản do người chết là ông Khương Văn T3 để lại (Nghĩa vụ hoàn trả ½ khoản vay còn lại của tại ngân hàng N2 – Chi nhánh C1, khoản tiền bà Đỗ Thị L đã trả thay dư nợ gốc và lãi suất từ tháng 7/2023 đến tháng 2/2024). Giá trị còn lại là phần di sản của ông Khương Văn T3, theo quy định tại Điều 612 Bộ luật dân sự là: 1.072.651.300VNĐ - 708.424.120VNĐ - 54.163.946VNĐ = 310.063.234VNĐ (Ba trăm mười triệu, không trăm sáu mươi ba nghìn, hai trăm ba mươi bốn đồng).

Về diện thừa kế và kỷ phần thừa kế: Ngày 04/6/2023 ông Khương Văn T3 chết không để lại di chúc do đó phần di sản do ông Khương Văn T3 để lại được chia thừa kế theo pháp luật. Theo quy định tại điều 613 Bộ luật dân sự, hàng thừa kế thứ nhất được hưởng di sản thừa kế của ông Khương Văn T3 gồm có: Bà Phạm Thị N – Sinh năm 1956; chị Khương Thị Minh T - Sinh ngày 13/11/2005, cháu Khương Tuấn H1 - Sinh ngày 17/7/2009 và cháu Khương Đức T2 - Sinh ngày 09/07/2015. Đối với bà Đỗ Thị L có quan hệ hôn nhân với ông Khương Văn T3, tuy nhiên quan hệ hôn nhân của bà Đỗ Thị L và ông Khương Văn T3 đã chấm dứt theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số: 100/2022/QÐST-HNGĐ ngày 26/10/2022 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai (Trước ngày ông Khương Văn T3 chết), tại thời điểm mở thừa kế bà Đỗ Thị L không còn là người thừa kế tài sản của ông Khương Văn T3. Diện thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất được hưởng di sản thừa kế của ông Khương Văn T3 gồm 04 người là 04 kỷ phần. Giá trị các kỷ phần thừa kế là bằng nhau là: 310.063.234VNĐ : 4 = 77.515.808VNĐ.

Từ nhận định trên Hội đồng xét xử thấy rằng: Nguyên đơn chị Khương Thị Minh T yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Khương Văn T3 là có căn cứ, nên được chấp nhận.

Việc chị Khương Thị Minh T có yêu cầu được giao quyền sử dụng diện tích 96,6 m² đất ở đô thị, thửa đất số 41, tờ bản đồ số P11-5 và được giao quyền sở hữu tài sản trên đất là 01 căn nhà xây cấp 4, 02 tầng tại số nhà D, đường Đ, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Xét yêu cầu của chị Khương Thị Minh T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hiện chị Khương Thị Minh T là người đang quản lý khối tài sản chung trong đó có phần di sản của ông Khương Văn T3. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều nhất trí giao cho chị Khương Thị Minh T được quyền sử dụng diện tích 96,6 m² đất ở đô thị, thửa đất số 41, tờ bản đồ số P11-5 và được quyền sở hữu tài sản trên đất là 01 căn nhà xây cấp 4, 02 tầng tại số nhà D, đường Đ, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Do đó, yêu cầu của chị Khương Thị Minh T là có căn cứ và phù hợp với ý chí của các bên đương sự, nên được chấp nhận. Chị Khương Thị Minh T phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả toàn bộ khoản tiền dư nợ gốc và khoản tiền lãi suất cho Ngân hàng N2, hoàn trả cho bà Đỗ Thị L phần giá trị tài sản của bà Đỗ Thị L trong khối tài sản chung với ông Khương Văn T3; khoản tiền bà Đỗ Thị L đã thực hiện trả gốc và lãi suất thay cho ông Khương Văn T3 và thực hiện hoàn trả các kỷ phần thừa kế cho những người được thừa kế di sản của ông Khương Văn T3.

[4] Về án phí: Nguyên đơn chị Khương Thị Minh T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Khương Tuấn H1, anh Khương Đức T2, phải chịu khoản tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với phần tài sản được chia thừa kế và khoản tiền án phí chung đối với phần thực hiện nghĩa vụ do người chết ông Khương Văn T3 để lại theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị L phải chịu khoản tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với phần tài sản được chia, được hoàn trả và khoản tiền án phí đối với phần nghĩa vụ chung về tài sản theo quy định của pháp luật.

Bị đơn bà Phạm Thị N có đơn xin được miễn án phí là người cao tuổi. Căn cứ vào điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị đơn bà Phạm Thị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ngân hàng N2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà người đại diện hợp pháp của nguyên đơn chị Khương Thị Minh T có ý kiến xin được tự chịu khoản tiền chi phí tố tụng xem xét thẩm định và định giá tài sản, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2, Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1, 2, Điều 147; Điều 157; Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 33; Điều 37; khoản 2, Điều 66 Luật Hôn nhân và Gia đình. Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng. Điều 463; Điều 466; Điều 470; Điều 612; Điều 613; Điều 615; Điều 649; Điều 650; Điều 651, Điều 660 Bộ luật dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của nguyên đơn chị Khương Thị Minh T.

    Về di sản thừa kế:

    Di sản thừa kế của ông Khương Văn T3 để lại có giá trị là: 310.063.234VNĐ (Ba trăm mười triệu, không trăm sáu mươi ba nghìn, hai trăm ba mươi bốn đồng).

    Về chia di sản thừa kế:

    Chị Khương Thị Minh T được hưởng thừa kế phần di sản của ông Khương Văn T3 để lại là: 77.515.808VNĐ (Bẩy mươi bẩy triệu năm trăm mười lăm nghìn tám trăm linh tám đồng).

    Bà Phạm Thị N được hưởng thừa kế phần di sản của ông Khương Văn T3 để lại là: 77.515.808VNĐ (Bẩy mươi bẩy triệu năm trăm mười lăm nghìn tám trăm linh tám đồng).

    Anh Khương Tuấn H1 được hưởng thừa kế phần di sản của ông Khương Văn T3 để lại là: 77.515.808VNĐ (Bẩy mươi bẩy triệu năm trăm mười lăm nghìn tám trăm linh tám đồng).

    Anh Khương Đức T2 được hưởng thừa kế phần di sản của ông Khương Văn T3 để lại là: 77.515.808VNĐ (Bẩy mươi bẩy triệu năm trăm mười lăm nghìn tám trăm linh tám đồng).

    Về nghĩa vụ thanh toán giá trị chia di sản thừa kế:

    Giao cho chị Khương Thị Minh T được quyền sử dụng diện tích đất 01 căn nhà xây cấp 4 gồm 02 tầng, xây dựng trên thửa đất số 41, tờ bản đồ số P11-5, diện tích 96,6 m² đất ở đô thị, đã được Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BO 546379 ngày 12/12/2013, mang tên người sử dụng đất đăng ký biến động bà Đỗ Thị L và ông Khương Văn T3.

    Chị Khương Thị Minh T có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng N2, tổng số tiền dư nợ tính đến ngày 23/01/2025 là: 1.416.848.241VNĐ (Một tỷ bốn trăm mười sáu triệu tám trăm bốn mươi tám nghìn hai trăm bốn một đồng). Trong đó khoản tiền dư nợ gốc là: 1.271.300.000VNĐ (Một tỷ hai trăm bẩy mươi một triệu ba trăm nghìn đồng); khoản tiền, dự nợ lãi suất là: 145.548.241VNĐ (Một trăm bốn mươi lăm triệu năm trăm bốn mươi tám nghìn hai trăm bốn mươi một đồng).

    Trường hợp chị Khương Thị Minh T không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền dư nợ gốc đã vay còn lại và khoản tiền dự nợ lãi suất. Ngân hàng N2 có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý phát mại tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản số: 06/2015 ngày 24/06/2015 và các văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp kèm theo giữa Ngân hàng N2 – Chi nhánh C1, tỉnh Lào Cai với bà Đỗ Thị L và ông Khương Văn T3, để thu hồi các khoản nợ theo quy định của pháp luật.

    Kể từ ngày Ngân hàng N2 có đơn yêu cầu thi hành án, chị Khương Thị Minh T phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi suất của số tiền dư nợ gốc chưa thanh toán, phát sinh sau ngày 23/01/2025 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận hợp đồng cho vay hạn mức số: 8811LAV202200539 ngày 15 tháng 8 năm 2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp, trong hợp đồng cho vay hạn mức số: 8811LAV202200539 ngày 15 tháng 8 năm 2022, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng N2 thì mức lãi suất mà chị Khương Thị Minh T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng N2 theo mức điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng N2 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

    Chị Khương Thị Minh T có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Đỗ Thị L phần giá trị tài sản còn lại của bà Đỗ Thị L trong khối tài sản chung với ông Khương Văn T3 là: 418.391.126VNĐ (Bốn trăm mười tám triệu ba trăm chín mươi một nghìn một trăm hai mươi sáu đồng).

    Chị Khương Thị Minh T có nghĩa vụ thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế cho những người được chia di sản thừa kế của ông Khương Văn T3 như sau:

    Thanh toán cho bà Phạm Thị N số tiền là: 77.515.808VNĐ (Bẩy mươi bẩy triệu năm trăm mười lăm nghìn tám trăm linh tám đồng).

    Thanh toán cho anh Khương Tuấn H1 số tiền là: 77.515.808VNĐ (Bẩy mươi bẩy triệu năm trăm mười lăm nghìn tám trăm linh tám đồng).

    Thanh toán cho anh Khương Đức T2 số tiền là: 77.515.808VNĐ (Bẩy mươi bẩy triệu năm trăm mười lăm nghìn tám trăm linh tám đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị đơn và những người có quyền lợi liên quan có đơn yêu cầu thi hành án. Nếu nguyên đơn chị Khương Thị Minh T không thi hành xong khoản tiền phải có nghĩa vụ thanh toán cho bị đơn và những người có quyền lợi liên quan, thì hàng tháng nguyên đơn chị Khương Thị Minh T còn phải chịu thêm khoản tiền lãi suất tương ứng với thời gian chưa thi hành án, theo quy định tại Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự.

  2. Về án phí:

    Những người được thừa kế di sản của ông Khương Văn T3 là: Chị Khương Thị Minh T; anh Khương Tuấn H1 và anh Khương Đức T2 mỗi người phải chịu 11.366.020VNĐ (Mười một triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn không trăm hai mươi đồng) khoản tiền án phí dân sự sơ thẩm. Chị Khương Thị Minh T được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 937.500VNĐ (Chín trăm ba mươi bẩy nghìn năm trăm đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0000811 ngày 09/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Chị Khương Thị Minh T còn phải tiếp tục nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 10.428.520VNĐ (Mười triệu bốn trăm hai mươi tám nghìn năm trăm hai mươi đồng).

    Bà Đỗ Thị L phải chịu 47.988.368VNĐ (Bốn mươi bẩy triệu chín trăm tám mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi tám đồng) khoản tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Bản án, được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

    Nguyên đơn chị Khương Thị Minh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N2; bà Đỗ Thị L; anh Khương Tuấn H1 và anh Khương Đức T2 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn bà Phạm Thị N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND thành phố Lào Cai (02);
  • - THADS thành phố Lào Cai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Ngọc Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/DS-ST ngày 23/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 03/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khương Thị Minh T-Phạm Thị N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger