|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2025/HS-ST
Ngày: 23-01-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thành Phước.
- Ông Nguyễn Văn Ngộ.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hoàng Ngọc, Thư ký Toà án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Minh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thành T (Nguyễn Văn T1), sinh năm 1987 (không xác định được ngày, tháng sinh) tại huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nơi ở hiện nay: ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tấn L (c) và bà Nguyễn Thị D (s); A, chị em ruột: không có; vợ, con: không; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân xấu ngày 12/02/2007, Nguyễn Thành T bị Toà án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt 06 (S) tháng tù về tội trộm cắp tài sản chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/6/2007 và đã chấp hành xong các phần khác của bản án, tính đến ngày 30/6/2024 đã được xoá án tích.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/9/2024 đến nay (Bị cáo có mặt);
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành T: Ông Nguyễn Văn Đ – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh S (có mặt).
Bị hại: Tạ Trường G, sinh năm 1985 (có mặt);
Nơi cư trú tại: ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Thanh C, sinh năm 1985 (có mặt);
- Nơi cư trú: ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
Người làm chứng:
- Bà Dương Thị T2, sinh năm 1985 (có mặt);
- Ông Trang Út Q, sinh năm 1985 (có mặt);
Cùng cư trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Trần Quốc L1, sinh năm 1964 (vắng mặt);
- Ông Phan Minh T3, sinh năm 1985 (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1966 (có mặt);
Cùng cư trú: ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 30/6/2024, ông Trần Thanh C tổ chức uống bia tại nhà thuộc ấp Đ, xã Đ, huyện C gồm có Trần Thanh C, Nguyễn Thành T, Nguyễn Văn N, Trần Quốc L1, Phan Minh T3, Trang Út Q, Lâm Văn H, Trương Hồng N1, Nguyễn Thành L2, Tạ Trường G tất cả cùng ngồi uống bia chung một bàn đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì N1 và L2 về trước, những người còn lại vẫn ngồi uống bia và hát karaoke. Đến khoảng 20 giờ 30 phút Nguyễn Thành T nằm võng cách bàn uống bia khoảng 1,5m nghỉ được khoảng 30 phút thì C đến kêu T lên bàn uống bia tiếp, T lên ngồi uống bia tại vị trí cũ được khoảng 10 phút thì đến lượt T hát nên T cầm micro hát bài “Tình Cha”, khi T vừa hát được một đoạn thì G ngồi dậy để đi về, do giọng hát của T bị ngọng, nên G bật cười. Khi nghe cười thì T nghĩ rằng G xem thường nên T dùng tay phải cầm một cái ly thủy tinh, loại có quai cầm (cái ly uống bia tại vị trí của T) ném về hướng G và trúng vào vùng trán của G gây thương tích và được mọi người can ngăn thì T đi về nhà, G được gia đình đưa đi điều trị thương tích tại Trung tâm Y tế huyện C từ ngày 30/6/2024 đến ngày 08/7/2024 thì ra viện. Đến ngày 30/6/2024 Tạ Trường G có đơn yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thành T về hành vi cố ý gây thương tích.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành trưng cầu giám định thương tích đối với T.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 407/KLTTCT-TTPYST ngày 22/8/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh S, kết luận Tạ Trường G có tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 11% tổn thương nằm ở vùng nguy hiểm đến tính mạng, tổn thương vùng trán trái gây ảnh hưởng thẩm mỹ vùng mặt, tổn thương có đặc điểm do vật có cạnh sắc gây nên (bút lục 85).
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành khởi tố vụ án và khởi tố bị can Nguyễn Thành T để điều tra làm rõ. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Nguyễn Thành T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là đã dùng ly thủy tinh như mô tả vật chứng ném anh Tạ Trường G gây thương tích.
Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKS-CLD ngày 25/12/2024 Viện Kiểm sát nhân dân Huyện Cù Lao Dung đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung để xét xử bị cáo: Nguyễn Thành T về tội “cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự 2015).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng trong phần tranh luận đã viện dẫn điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015; do bị cáo sử dụng hung khí nguy hiểm ném vào vùng mặt của bị hại gây tổn hại sức khỏe 11% là tình tiết định khung hình phạt, nên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội “cố ý gây thương tích”. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 xử phạt: Nguyễn Thành T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy nhiều mãnh vỡ thủy tinh không rõ hình.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị. Tuy nhiên, đề nghị hội đồng xét xử xem xét sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại. Nên Hội đồng cần xem xét áp dụng thêm Điều 54, Điều 65 của Bộ luật hình sự để tuyên phạt bị cáo dưới mức thấp nhất mà Kiểm sát viên đã truy tố cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Do bị cáo hiện đang có nơi cư trú rõ ràng, chấp hành tốt Chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ sức răn đe và tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Ngoài ra, do bị cáo thuộc Hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo thống nhất với lời bào chữa của vị luật sư, bị cáo không có tranh luận gì thêm.
Tại phiên tòa, bị hại Tạ Trường G trình bày: Thống nhất với nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và lời nhận tội của bị cáo; Về trách nhiệm dân sự bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm các khoản nào khác; Về trách nhiệm hình sự: Bị hại yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái nên đã thật sự ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng minh và chứng cứ: Xét thấy, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 85, 86, 87, 88, 91, 92, 94, 98, 100, 102, 104, 108 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Tại phiên tòa người làm chứng Trần Quốc L1 và Phan Minh T3 vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ và rõ ràng trong quá trình điều tra. Đồng thời, tại phiên tòa vị Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại cũng đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
[4] Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thành T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, bản ảnh diễn lại hành vi, lời khai của bị hại cũng như các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ cơ sở kết luận vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 30/6/2024, ông Trần Thanh C có tổ chức uống bia tại nhà gồm có Trần Thanh C, Nguyễn Thành T, Nguyễn Văn N, Trần Quốc L1, Phan Minh T3, Trang Út Q, Lâm Văn H, Trương Hồng N1, Nguyễn Thành L2, Tạ Trường G tất cả cùng ngồi uống bia chung một bàn đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì N1 và L2 về trước, những người còn lại vẫn ngồi uống bia và hát karaoke. Đến khoảng 20 giờ 30 phút Nguyễn Thành T nằm võng cách bàn uống bia khoảng 1,5m nghỉ được khoảng 30 phút thì C đến kêu T lên bàn uống bia tiếp, T lên ngồi uống bia tại vị trí cũ được khoảng 10 phút thì đến lượt T hát nên T cầm micro hát bài “Tình Cha”, khi T vừa hát được một đoạn thì G ngồi dậy để đi về, do giọng hát của T bị ngọng, nên G bật cười. Khi nghe cười thì T nghĩ rằng G xem thường nên T dùng tay phải cầm một cái ly thủy tinh, loại có quai cầm (cái ly uống bia tại vị trí của T) ném về hướng G và trúng vào vùng trán của G gây thương tích gây tổn hại sức khỏe là 11%. Bị cáo chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhưng sẵn sàng dùng ly thủy tinh để ném gây thương tích cho bị hại; rõ ràng bị cáo đã cố ý “dùng hung khí nguy hiểm” để thực hiện hành vi phạm tội, với tỷ lệ thương tật của bị hại là 11% đã hội đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. Nên Cáo trạng xác định hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về sức khoẻ của con người, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Nên cần phải có một mức án tương xứng đối với bị cáo để làm gương cho người khác.
[6] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu ngày 12/02/2007, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt 06 (sáu) tháng tù về tội trộm cắp tài sản chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/6/2007 và đã chấp hành xong các phần khác của bản án, tính đến ngày 30/6/2024 đã được xoá án tích. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo và tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo không biết chữ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
[7] Tại phiên tòa xét thấy lời đề nghị của vị Kiểm sát viên là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 6.000.000 đồng, tại phiên tòa hôm nay bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản chi phí nào khác, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bị hại.
[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy nhiều mãnh vở thủy tinh không rõ hình.
[10] Xét lời đề nghị của người bào chữa cho bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng việc yêu cầu được hưởng án treo theo Điều 65 là chưa nghiêm, chưa có tác dụng giáo dục phòng ngừa chung nên Hội đồng xét xử không được chấp nhận.
[11] Về án phí: Xét thấy, bị cáo thuộc đối tượng hộ nghèo và tại phiên tòa bị cáo có đơn xin miễn án phí. Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thành T được miễn án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên xử:
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tự nguyện hoặc bắt thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Do không có yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy nhiều mãnh thủy tinh, vỡ không rõ hình. Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu vật chứng, ngày 31/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thành T được miễn án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Thanh |
Bản án số 03/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG TỈNH SÓC TRĂNG về cố ý gây thương tích (hình sự)
- Số bản án: 03/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo bị xử phạt 02 năm tù
