|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày: 26/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- * Tại điểm cầu trung tâm.
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Xuân Thu.
- - Các hội thẩm nhân dân: Bà La Thị Thành; Ông Đinh Công Vương.
- - Thư ký phiên toà: Bà Lã Thu Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên toà: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên.
Ngày 26/11/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2024/TLST-HS, ngày 02/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXXST-HS ngày 15/11/2024 đối với các bị cáo:
- * Tại điểm cầu thành phần, nhà tạm giữ Công an huyện T.
- 1.Lò Thị S -Sinh ngày 18/9/1969 tại huyện T, tỉnh Lai Châu.
Nơi cư trú: Bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn C; Con bà: Vì Thị H ( đều đã chết); Gia đình có 08 chị, em bị cáo là con thứ hai; Chồng: Lường Văn C1 – sinh năm 1968; Bị cáo có 06 con; Tiền án, tiền sự: Không có.
Về nhân thân: Tại bản án số 26/HSST ngày 11/12/2008 của Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử áp dụng điểm h khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt Lò Thị S 07 năm tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy”. Tại bản án số 105/HSST ngày 15/8/2012 của Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, xử phạt Lò Thị S 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Lò Thị S đã chấp hành xong hình phạt ngày 09/02/2017, hiện đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/6/2024, tạm giam từ ngày 26/6/2024. Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T. (Có mặt)
- 2.Lò Văn B -Sinh ngày 01/01/1977 tại huyện T, tỉnh Lai Châu.
Nơi cư trú: Bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn D – sinh năm 1952; Con bà: Lò Thị È (đã chết); Gia đình có 12 chị, em bị cáo là con thứ tư; Vợ: Lò Thị Q – sinh năm 1977; Bị cáo có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/6/2024, tạm giam từ ngày 26/6/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T.(Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo Lò Thị S khai nhận: khoảng 11 giờ ngày 19/6/2024, tại nhà ở của S thuộc bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lò Thị S gọi điện thoại di động từ số thuê bao 0985101913, đến số thuê bao điện thoại di động 0379.613.xxx cho Tòng Thị S1 (cư trú tại xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu). Qua điện thoại, S hỏi S1 có Heroine bán không ?, nếu có thì bán cho S 500.000 đồng, S1 đồng ý. S bảo S1 mang Heroine ra gần trụ sở UBND xã M thuộc bản C, xã M, huyện T để giao nhận. Sau khi trao đổi việc mua, bán Heroine với Tòng Thị S1, Lò Thị S đi xe ôm của một người đàn ông không rõ lai lịch đến điểm hẹn. Khi đi gần đến nơi, S bảo người xe ôm đứng ở ngoài đường đợi, còn Sẩu một mình đi vào đường gần trụ sở UBND xã M, huyện T thì gặp Tòng Thị S1. S đã mua của S1 01 gói Heroine với số tiền 500.000 đồng. Mua được H1, Lò Thị S đi ra chỗ người đàn ông đang đợi rồi tiếp tục đi xe ôm mang gói Heroine về nhà S tại bản Nà Phái, xã P, huyện T và đã nhiều lần cấu lấy một ít sử dụng bằng hình thức hít. Số Heroine còn lại, S cất giấu trong 01 lọ nhựa màu trắng để ở đầu giường hay cuối giường ngủ của mình không cho ai biết. Đến khoảng 11 giờ ngày 20/6/2024, khi Lò Thị S đang ở nhà tại bản N, xã P, huyện T thì có Lò Văn B đến gặp S hỏi mua Heroine. B đưa cho S số tiền 200.000 đồng (gồm 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng; 01 tờ mệnh giá 50.000 đồng và 05 tờ mệnh giá 10.000 đồng). S nhận tiền từ B rồi lấy gói Heroine trong lọ nhựa ra, cấu lấy một ít chia ra làm 02 gói nhỏ, gói lại bằng mảnh giấy màu trắng bán cho B. Số Heroine còn lại, S chia thành 25 gói nhỏ, trong đó 24 gói được gói bằng mảnh ni lon màu vàng để trong lọ nhựa màu trắng, còn 01 gói được gói bằng mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ đựng trong túi ni lon màu trắng Sẩu cất giấu tất cả ở đầu giường hay cuối giường ngủ không cho ai biết.
Đối với Lò Văn B, sau khi mua được Heroine, B mang về nhà tại bản Nà Phái, xã P, huyện T chia thành 06 gói nhỏ, mục đích để sử dụng. Sau đó, B gói chung 05 gói Heroine thành 01 gói bằng 01 túi ni lon màu trắng, cất trong túi áo treo trong nhà không cho ai biết. Gói Heroine còn lại, B chia thành 02 phần, 01 phần Bích để trên bàn uống nước, còn 01 phần B cho vào mảnh giấy bạc và sử dụng bằng hình thức hít thì bị Công an huyện T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 21 giờ 20 phút cùng ngày. Vật chứng thu giữ 01 mảnh giấy bạc đã than hóa; 01 bật lửa ga màu đỏ. Thu giữ trên mặt bàn uống nước trong nhà Lò Văn B 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh giấy màu trắng). Lò Văn B tự giác giao nộp cho Cơ quan điều tra 05 gói Heroine được gói trong 01 túi ni lon màu trắng (trong đó, 03 gói được gói bằng mảnh giấy màu trắng; 01 gói bằng mảnh ni lon màu xanh; 01 gói bằng mảnh ni lon màu vàng).
Khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Lò Thị S, Cơ quan điều tra thu giữ trên giường ngủ của Lò Thị S 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh giấy màu trắng) và 01 lọ nhựa màu trắng bên trong đựng 23 gói Heroine (từng gói đều được gói bằng mảnh ni lon màu vàng); thu giữ dưới đệm trên giường ngủ của Lò Thị S 01 gói Heroine được gói bằng mảnh ni lon màu vàng và số tiền 200.000 đồng (gồm 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng; 01 tờ mệnh giá 50.000 đồng và 05 tờ mệnh giá 10.000 đồng) do S bán Heroine cho Lò Văn B mà có.
Tại bản kết luận giám định tư pháp số 63 ngày 20/6/2024 của người giám định theo vụ việc Công an huyện T và kết luận giám định số 827 ngày 25/6/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Lò Văn B có tổng khối lượng 0,28 gam; là ma túy, loại: Heroine (Heroin).
Tại bản kết luận giám định tư pháp số 64 ngày 21/6/2024 của người giám định theo vụ việc Công an huyện T và kết luận giám định số 825 ngày 24/6/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Lò Thị S có tổng khối lượng 1,85 gam; là ma túy, loại: Heroine (Heroin).
Tại bản kết luận giám định số 824 ngày 25/6/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: số tiền 200.000 đồng thu giữ của Lò Thị S là tiền thật.
Vật chứng của vụ án gồm: 0,28 gam Heroine thu giữ của Lò Văn B, Cơ quan điều tra đã trích gửi giám định 0,1 gam; 1,85 gam Heroine thu giữ của Lò Thị S, Cơ quan điều tra đã trích gửi giám định 0,36 gam. Vật chứng còn lại: 0,18 gam Heroine thu giữ của Lò Văn B; 1,49 gam Heroine thu giữ của Lò Thị S; 02 túi ni lon màu trắng; 01 mảnh ni lon màu xanh; 05 mảnh giấy màu trắng; 24 mảnh ni lon màu vàng; 01 mảnh giấy bạc đã than hóa; 01 bật lửa ga màu đỏ; 04 vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 điện thoại di động và số tiền 200.000 đồng, hiện đang được lưu giữ, bảo quản theo quy định.
Tại bản cáo trạng số: 123/CT –VKS, ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố bị cáo Lò Thị S về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Lò Văn B về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện T trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Thị S phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Lò Văn B phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Đề nghị HĐXX Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Thị S từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn B từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 1,67 gam Heroine; 01 lọ nhựa màu trắng, 02 túi ni lon màu trắng, 01 mảnh ni lon màu xanh, 05 mảnh giấy màu trắng, 24 mảnh ni lon màu vàng, 01 mảnh giấy bạc đã than hóa, 01 bật lửa ga màu đỏ, 04 vỏ bì niêm phong ban đầu. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đồng. Trả lại cho bị cáo Lò Thị S 01 điện thoại di động.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Các bị cáo đều không có ý kiến tranh luận gì đối với quan điểm của vị đại diện Kiểm sát.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đều mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để được sớm trở về hòa nhập với gia đình, xã hội, tự sửa chữa sai lầm để làm người có ích và xin miễn toàn bộ án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Căn cứ vào lời khai của các bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 19/6/2024, tại bản Cang Mường, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lò Thị S đã mua trái phép 01 gói Heroine với số tiền 500.000 đồng, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Sau đó, Lò Thị S mang gói Heroine về nhà tại N, xã P, huyện T chia thành nhiều gói nhỏ. Đến khoảng 11 giờ ngày 20/6/2024, Lò Thị S đã bán trái phép 02 gói Heroine cho Lò Văn B lấy số tiền 200.000 đồng. Mua được H1, Lò Văn B mang về nhà chia thành 06 gói nhỏ, mục đích để sử dụng. Đến hồi 21 giờ 20 phút ngày 20/6/2024, tại bản Nà Phái, xã P, huyện T, Lò Văn B bị Công an huyện T bắt quả tang, thu giữ 06 gói Heroine có tổng khối lượng 0,28 gam. Khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Lò Thị S, Cơ quan điều tra thu giữ 25 gói Heroine có tổng khối lượng 1,85 gam và số tiền 200.000 đồng do bán Heroine mà có.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lò Thị S đã đủ yếu tố cấu thành tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Lò Văn B cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy nội dung bản cáo trạng truy tố, căn cứ pháp luật, mức án đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định.
- Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Các bị cáo có đủ điều kiện để nhận biết: Heroine là chất ma túy gây nghiện, hủy hoại sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, nên Nhà nước nghiêm cấm và xử phạt nghiêm khắc đối với bất kỳ ai có một trong những hành vi liên quan đến chất ma túy. Nhưng để có ma túy sử dụng và bán kiếm lời, các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội và là nguyên nhân chính làm gia tăng người nghiện chất ma túy trên địa bàn. Nên cần phải xử lý thật nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
- Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng: Bị cáo Lò Thị S tuy không có tiền án, tiền sự, nhưng quá trình nhân thân đã bị Tòa án nhân huyện T xử phạt hai lần về hành vi tàng trữ, mua bán chất ma túy như (phần căn cước của bị cáo đã nêu). Sau khi chấp hành xong hình phạt được tái hòa nhập cộng đồng được một thời gian, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo bị truy tố, xét xử cùng một vụ án, nhưng các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội độc lập. Trong vụ án này, bị cáo Lò Thị S phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng Heroine là 2,13 gam gồm: (1,85 gam Heroine thu giữ tại nhà Lò Thị S và 0,28 gam là số H1 đã bán cho Lò Văn B). Đối với bị cáo Lò Văn B phạm tội lần đầu, nhưng phải chịu trách nhiệm về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng H1 đã mua để sử dụng là 0,28 gam, nên các bị cáo phải chịu một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã thực hiện. Song quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phần do nhận thức về xã hội còn hạn chế,( Bị cáo S có bố đẻ là người có công với cách mạng, bị cáo là phụ nữ đã có tuổi). Nên cần cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tương ứng được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xét giảm phần nào khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo. Đây cũng là căn cứ, lý do để cho bị cáo Lò Thị S được hưởng mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt mà vị Kiểm sát nhân dân đề nghị áp dụng đối với bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy: gia đình khó khăn, các bị cáo không đảm nhiệm chức vụ nghề nghiệp gì, do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về vật chứng còn lại của vụ án gồm: 0,18 gam Heroine thu giữ của Lò Văn B; 1,49 gam Heroine thu giữ của Lò Thị S; 01 lọ nhựa màu trắng, 02 túi ni lon màu trắng, 01 mảnh ni lon màu xanh, 05 mảnh giấy màu trắng, 24 mảnh ni lon màu vàng, 01 mảnh giấy bạc đã than hóa, 01 bật lửa ga màu đỏ, 04 vỏ bì niêm phong ban đầu. Xét thấy số vật chứng này là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 200.000đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S thu giữ của bị cáo Lò Thị S. Xét thấy tiền do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mà có, điện thoại bị cáo dùng vào việc liên hệ khi thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Về nguồn gốc H1, bị cáo Lò Thị S khai mua của Tòng Thị S1 (sinh năm 1968; nơi cư trú bản Lả Mường, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu). Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, tuy nhiên, hiện Tòng Thị S1 không có mặt tại địa phương, khi nào điều tra làm rõ được sẽ xử lý sau.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lò Thị S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo Lò Văn B gia đình thuộc hộ nghèo và tại phiên tòa bị cáo xin miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm, nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lò Thị S phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Lò Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
- Khoản 2 Điều 106; Điều 135;136;331;333 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1.
- * Xử phạt bị cáo Lò Thị S 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 20/6/2024.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
- Khoản 2 Điều 106; Điều 135;136;331;333 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1.
- * Xử phạt bị cáo Lò Văn B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 20/6/2024.
- Về vật chứng:
- Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,18 gam Heroine thu giữ của Lò Văn B; 1,49 gam Heroine thu giữ của Lò Thị S; 01 lọ nhựa màu trắng, 02 túi ni lon màu trắng, 01 mảnh ni lon màu xanh, 05 mảnh giấy màu trắng, 24 mảnh ni lon màu vàng, 01 mảnh giấy bạc đã than hóa, 01 bật lửa ga màu đỏ, 04 vỏ bì niêm phong ban đầu..
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S thu giữ của bị cáo Lò Thị S.
(Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên lập ngày 07/10/2024 ).
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn B. Bị cáo Lò Thị S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Xuân Thu |
Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về hình sự về tội mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 03/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt các bị cáo từ 1 đến 3 năm tù
