|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày 25.11.2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cường.
Ông Phạm Minh Hoan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Nông - tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2024/TLST - HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: H1; Sinh ngày 01 tháng 6 năm 1987 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu C, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở hiện tại: Khu F, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hán Văn B, sinh năm 1960 và bà: Phan Thị S, sinh năm 1960; Vợ: Bùi Thị H, sinh năm 1991; Con: Có 2 con (lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2015); Tiền án, Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 20/11/2008 bị TAND tối cao xử 05 năm tù về tội Cướp tài sản, thời hạn quản chế 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 30/8/2010 T được đặc xá. Đến nay đã được đương nhiên xóa án tích.
Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Bị cáo có mặt).
- Bị hại: Ông Trần Đình L, sinh năm 1968; địa chỉ: Khu A, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Trần Thị Kim O, sinh năm 1984; địa chỉ:Khu F, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).
- Ông Ngô Vi C, sinh năm 1958; địa chỉ: Số A, khu P, phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 13/7/2024, Hán Trung T sinh năm 1987 ở khu F, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ đi bộ đến nhà thím ruột là Trần Thị Kim O, sinh năm 1984 ở cùng khu để mượn xe mô tô đi chơi, chị O đồng ý và cho T mượn 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave màu xanh, biển kiểm soát 19N1-151.32.Khoảng 12 giờ 00 phút,T điều khiển xe mô tô đi theo đường H, rồi rẽ vào đường bê tông liên khu, khi đến khu A, xã B, huyện T, tỉnh Phú thọ, T thấy ở lề đường bên trái theo chiều đi có 01 xe cải tiến, trên xe có đồ vật được phủ bạt màu xanh (của ông Trần Đình L, sinh năm 1958 ở khu A, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ), không có ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp để bán lấy tiền tiêu xài. T điều khiển xe đi đến vị trí xe cải tiến, móc xe cải tiến vào xe mô tô rồi kéo ra đường H đi sang thị xã P để tìm nơi tiêu thụ. Khi đến cửa hàng thu mua phế liệu của ông Ngô Vi C, sinh năm 1958 ở số A, khu P, phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, T bỏ bạt phủ trên xe cải tiến thì thấy trên xe có 01 máy xới đất loại nhỏ, 02 bánh lồng của máy xới đất và 02 bánh phay bằng kim loại. Tĩnh nói với chủ cửa hàng là máy của gia đình không dùng nữa nên bán, ông C đồng ý mua các tài sản trên với giá 1.300.000 đồng. Sau khi mua bán xong, T đi đâu, làm gì ông C không biết. Khoảng 02, 03 ngày sau, ông C bán phần thùng xe cải tiến cùng các đồ sắt khác tại cửa hàng cho nhóm người thu mua sắt ở Vĩnh Phúc (ông C không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể), phần tay cầm máy xới đất những người này đã cắt rời nhưng sau đó không mua nên để lại cửa hàng. Các đồ vật còn lại gồm 01 máy xới đất, 02 tay cầm của máy xới đất bị cắt rời, bánh xe cải tiến, 02 bánh lồng, 02 bánh phay ông C tự nguyện giao nộp lại cho Cơ quan điều tra.
Cơ quan điều tra đã Yêu cầu định giá tài sản đối với 01 xe cải tiến, 01 máy xới đất, 02 bánh lồng và 02 bánh phay bằng kim loại bị trộm cắp nêu trên, tại bản kết luận định giá tài sản số 15/KL-ĐGTS ngày 05/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: “Tổng trị giá tài sản cần định giá thời điểm ngày 13/7/2024 là: 9.600.000 đồng”.
Tại cơ quan điều tra, T đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra thu thập được.
Xác minh tài sản xác định: Bị cáo hiện đang sinh sống cùng gia đình,không có tài sản riêng. Bị cáo là lao động tự do, thu nhập bình quân 3.000.000 đồng/tháng.
Tại bản cáo trạng số 34/CT- VKSTN ngày 29 tháng 10 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông truy tố bị cáo Hán Trung T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
-
- Về hình phạt chính:
Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt đối với: Hán Trung Tĩnh từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
-
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có tài sản, thu nhập.
-
- Về xử lý vật chứng: Xác nhận CQĐT đã trả lại cho ông Trần Đình L 01 máy xới đất, 02 bánh lồng, 02 bánh phay bằng kim loại, 02 bánh xe cải tiến. Trả lại cho chị Trần Thị Kim O 01 xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 19N1-151.32
-
- Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận Hán Trung Tĩnh đã tự nguyện bồi thường cho ông Trần Đình L số tiền 9.000.000 đồng, ông L đã nhận và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm
Đối với số tiền 1.300.000 đồng ông Ngô Vi C đã trả cho Hán Trung T, ông C không yêu cầu nhận lại, không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.
-
- Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bị hại ông Trần Đình L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Kim O và ông Ngô Vi C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa.Tuy nhiên ông L, chị O, ông C đã có lời khai trong hồ sơ vụ án việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về tội danh:
-
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 13/7/2024 tại khu A, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Hán Trung T, sinh năm 1987 ở khu F, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe cải tiến bằng kim loại, 01 máy xới đất, 02 bánh lồng, 02 bánh phay bằng kim loại, tổng trị giá tài sản là 9.600.000 đồng (Chín triệu sáu trăm nghìn đồng) của ông Trần Đình L, sinh năm 1958 ở khu A, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Hán Trung T đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
-
Về tính chất mức độ, hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Đây là vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi cá nhân muốn có tiền nhưng không muốn bỏ công sức lao động nên đã cố ý phạm tội.Vì vậy cần có hình phạt xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân Tối cao xét xử về tội Cướp tài sản.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Hán Trung T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại. Sau khi sự việc bị phát hiện, ngày 18/7/2024 Hán Trung T đã đến đầu thú tại Công an xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Hán Trung T không bị áp tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, xâm phạm trật tự công cộng, an ninh xã hội. Vì vậy cần cách
ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-
Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo Hán Trung T đã tự nguyện bồi thường cho bị hại là ông Trần Đình L số tiền 9.000.000 đồng, ông L đã nhận và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.
Đối với số tiền 1.300.000 đồng ông Ngô Vi C đã trả cho Hán Trung T, ông C không yêu cầu nhận lại, không có yêu cầu, đề nghị gì thêm. Hội đồng không xem xét giải quyết là phù hợp.
-
Về xử lý vật chứng: Xác nhận CQĐT đã trả lại cho ông Trần Đình L 01 máy xới đất, 02 bánh lồng, 02 bánh phay bằng kim loại, 02 bánh xe cải tiến. Trả lại cho chị Trần Thị Kim O 01 xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 19N1-151.32. Hội đồng không xem xét giải quyết là phù hợp.
Đối với ông Ngô Vi C khi mua tài sản của Tĩnh, không biết tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với chị Trần Thị Kim O, khi cho T mượn xe mô tô, chị O không biết T sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, không hưởng lợi gì từ hành vi trộm cắp tài sản của T, do vậy Cơ quan Điều tra không đề cập xử lý đối với chị O là phù hợp.
Đối với nhóm người ở Vĩnh Phúc đã mua phần thùng xe cải tiến ở cửa hàng ông Ngô Vi C, ông C không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện T không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên bố bị cáo: Hán Trung T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
-
- Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Hán Trung T: 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
-
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hán Trung T.
-
- Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo Hán Trung T đã tự nguyện bồi thường cho bị hại là ông Trần Đình L số tiền 9.000.000 đồng, ông L đã nhận và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.
Đối với số tiền 1.300.000 đồng ông Ngô Vi C đã trả cho Hán Trung T, ông C không yêu cầu nhận lại, không có yêu cầu, đề nghị gì thêm. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Xác nhận CQĐT đã trả lại cho ông Trần Đình L 01 máy xới đất, 02 bánh lồng, 02 bánh phay bằng kim loại, 02 bánh xe cải tiến. Trả lại cho chị Trần Thị Kim O 01 xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 19N1-151.32.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Hán Trung T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng điều 26 Luật thi hành án dân sự, các bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự, nếu không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 7a, điều 9 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo:Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thơm |
Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 03/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo: Hán Trung T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
