TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PÔ TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2024/HS-ST
Ngày 05 - 11 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Hiền
- Ông Khoàng Văn Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lò Văn Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Phùng Việt Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXXST - HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Giàng A S
sinh ngày 19 tháng 3 năm 1976 tại xã Mường Mùn, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Nơi thường trú: Bản Huổi Thủng 3, xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên; Thẻ CCCD: [...]; Nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ Công An; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng A D sinh năm 1938 (đã chết) và con bà Vàng Thị V sinh năm 1939 (đã chết); Bị cáo Giàng A S có vợ tên là Sùng Thị C sinh năm 1979. Có 02 con, lớn nhất 28 tuổi, nhỏ nhất 09 tuổi. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án kết tội lần nào. Bị cáo Giàng A S bắt tạm giữ từ ngày 25 tháng 6 năm 2024 đến ngày 04 tháng 7 năm 2024, tạm giam từ ngày 04 tháng 7 năm 2024 đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Giàng A S: Bà Giàng Thị Nhung trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên tham gia tố tụng. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ ngày 25 tháng 6 năm 2024 bị cáo Giàng A S đi bộ từ nhà ở bản Huổi Thủng 3, xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ lên khu vực thuộc bản Huổi Po, xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên với mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi bị cáo Giàng A S gặp một người đàn ông, không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Qua nói chuyện biết người đàn ông này có ma túy bán. Bị cáo Giàng A S đã mua được của ông ta 01 (một) gói Heroine với số tiền là 30.000 đồng, mua bán xong người đàn ông đó đi đâu bị cáo không biết, còn bị cáo Giàng A S cất giấu vào trong mũ đội lên đầu rồi đi bộ về nhà. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 25 tháng 6 năm 2024, khi Giàng A S đang đi đến khu vực bản Nậm Chẩn, xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ thì bị tổ công tác Công an xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án và đưa về Công an huyện Nậm Pồ để làm rõ.
Ngày 26 tháng 6 năm 2024 Công an huyện Nậm Pồ cùng với Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng, khối lượng Heroine là 0,16 gam thu giữ của Giàng A S.
Bản kết luận giám định số: 1170/KL-KTHS ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Giàng A S có khối lượng 0,16 gam chất bột màu trắng đục dạng nén là chất ma túy: Loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.
Bản cáo trạng số: 70/CT-VKSNP ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ đã truy tố Giàng A S để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Giàng A S từ: 01 (một) năm tù đến: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo; Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS; Tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án. Áp dụng Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH khóa 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Giàng A S không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố cũng như phần luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đề nghị HĐXX xem xét đến điều kiện sinh sống của bị cáo dẫn đến nhận thức pháp luật có phần hạn chế; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xem xét xử phạt cho bị cáo Giàng A S mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; đề nghị không áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; đề nghị không áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS về hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về án phí, đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; Nghị quyết 326 của UBTVQH khóa 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí với nội dung truy tố trong Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Giàng A S nhất trí với lời bào chữa và không có ý kiến bổ sung; không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Lời sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét hành vi phạm tội bị cáo thấy: Lời khai nhận tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng đã có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 10 giờ ngày 25 tháng 6 năm 2024 bị cáo Giàng A S đi bộ từ nhà ở bản Huổi Thủng 3, xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ lên khu vực thuộc bản Huổi Po, xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên với mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi bị cáo Giàng A S gặp một người đàn ông, không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Qua nói chuyện biết người đàn ông này có ma túy bán. Bị cáo Giàng A S đã mua được của ông ta 01 (một) gói Heroine với số tiền là 30.000 đồng, mua bán xong người đàn ông đó đi đâu bị cáo không biết, còn bị cáo Giàng A S cất giấu vào trong mũ đội lên đầu rồi đi bộ về nhà. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 25 tháng 6 năm 2024, khi Giàng A S đang đi đến khu vực bản Nậm Chẩn, xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ thì bị tổ công tác Công an xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án. Do đó HĐXX có đủ căn cứ kết luận bị cáo Giàng A S đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 BLHS. Điều 249 BLHS quy định “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”. Điểm c, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Việc VKSND huyện Nậm Pồ truy tố bị cáo Giàng A S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật, bị cáo không bị oan sai.
[2] Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội bị cáo thấy: Đây là vụ án nghiêm trọng về ma túy, mặc dù bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây mất trật tự trị an, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần xử lý bị cáo với mức hình phạt thỏa đáng, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo thấy: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án kết tội lần nào. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Giàng A Sùng không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS.
[4] Từ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần áp dụng một hình phạt thỏa đáng để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Giàng A S từ: 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên cần xem xét xử phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; HĐXX xét thấy có căn cứ áp dụng. Đề nghị HĐXX xử phạt mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Viện Kiểm sát. HĐXX xét thấy việc đề nghị của người bào chữa là phù hợp nên được chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát, người bào chữa về việc không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Đối với người đàn ông bán Heroine cho bị cáo; do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu do đó không có cơ sở để xử lý trong vụ án.
[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng: 0,06 gam Heroine và toàn bộ bao bì niêm phong là vật chứng vụ án Giàng A S.
[8] Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Bị cáo Giàng A Sùng thuộc diện hộ nghèo. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH khóa 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; HĐXX quyết định miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát; Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không khiếu nại hoặc ý kiến gì. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS;
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng A S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Giàng A S: 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 25 tháng 6 năm 2024.
3.Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng: 0,06 gam Heroine, 01 (một) mảnh Nilon màu trắng và toàn bộ bao bì niêm phong là vật chứng vụ án Giàng A S.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04 tháng 10 năm 2024 giữa Công an huyện Nậm Pồ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nậm Pồ.
4.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH khóa 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5.Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Giàng A S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 05 tháng 11 năm 2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giàng A Bách |
Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PÔ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 03/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PÔ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Giàng A Sùng phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy"
