|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 06/2024/HS-ST Ngày 02-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đèo Văn Vĩnh;
- Ông Lò Văn Chiên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Đoàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử công khai lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2024/TLST-HS, ngày 03 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn L, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 07/11/1972, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản N, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Giáy; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Hoàng Văn T, đã chết; mẹ đẻ: Nông Thị V, sinh năm 1942; vợ: Tẩn Thị M, sinh năm 1973; bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không. Về nhân thân: Tại Quyết định số: 01/QĐ-XPHC, ngày 20/3/2023, của Trưởng Công an huyện P, tỉnh Lai Châu, Hoàng Văn L bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, hình thức xử phạt: Phạt tiền, mức phạt: 2.000.000 đồng. Ngày 21/3/2023, Hoàng Văn L đã chấp hành xong quyết định xử phạt. Tính từ ngày 22/3/2024, Hoàng Văn L đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Tẩn Thị M, sinh năm 1973, địa chỉ: Bản N, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu, có mặt.
Người làm chứng: Anh Hoàng Văn Q, sinh năm 1979, địa chỉ: Bản N, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ, ngày 16/6/2024, Hoàng Văn L điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-641.52 đi từ nhà đến bản D, xã S, huyện P tìm mua Heroine để sử dụng và bán kiếm lời. Tại bản Dền Sung, L mua được 02 gói Heroine giá 300.000 đồng, của một người đàn ông không rõ lai lịch cụ thể. Mua được H1, L mang về nhà sử dụng 02 lần bằng hình thức hít, số Heroine còn lại, L cất giấu không cho ai biết. Khoảng 07 giờ, ngày 17/6/2024, L đang ở nhà thì Hoàng Văn Q, là em trai của L, đến hỏi mua Heroine để sử dụng. Lả lấy 01 gói Heroine san một ít bán ra cho Q lấy số tiền 200.000 đồng. Mua được H1, Q đi ra khỏi nhà L và sử dụng hết. Đến khoảng 07 giờ 45 phút cùng ngày, Công an xã N đến nhà Lả kiểm tra, Hoàng Văn L giao nộp 02 gói chất bột màu trắng, 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 01 bật lửa ga màu xanh và 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy và khai nhận chất bột màu trắng là Heroine của L để bán kiếm lời, số tiền 200.000 đồng là tiền L bán Heroine cho Q mà có. Cơ quan điều tra triệu tập lấy lời khai của Hoàng Văn Q, lời khai của Q phù hợp với lời khai của L. Cơ quan điều tra thu giữ của Q: 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 mảnh nilon màu hồng, Q khai là công cụ Q sử dụng Heroine. Ngày 17/6/2024, Cơ quan điều tra cho Hoàng Văn L, Hoàng Văn Q nhận diện tờ tiền 200.000 đồng thu giữ của Lả, kết quả: Lả và Q xác định đây là tờ tiền Q đưa cho L để mua Heroine.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-641.52, kèm theo giấy đăng ký xe do Tẩn Thị M giao nộp.
Tại bản Kết luận giám định số: 06/KL-GĐVV, ngày 17/6/2024, của người giám định tư pháp theo vụ việc, kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Hoàng Văn L có tổng khối lượng là 0,344 gam. Bản Kết luận giám định số: 775/K1-KTHS, ngày 18/6/2024, của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: 02 mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine. Bản Kết luận giám định số: 774/KL-KTHS, ngày 18/6/2024, của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng gửi đến giám định là tiền thật.
Tại bản Cáo trạng số: 93/CT-VKS, ngày 03 tháng 10 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Hoàng Văn L về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng. Phần luận tội, kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 (Hai) năm, 04 (Bốn) tháng đến 02 (Hai)
ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng thu của bị cáo; tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-641.52, kèm theo giấy đăng ký xe; tịch thu tiêu hủy các mảnh ni lon, 02 chiếc bật lửa ga, 02 mảnh giấy bạc và vỏ niêm phong vật chứng. Đối với toàn bộ số Heroine thu của bị cáo đã gửi đi giám định không hoàn lại, không đề cập giải quyết. Về án phí, áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo. Tranh luận với đề nghị của người bào chữa về mức hình phạt đối với bị cáo và phần xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát soát 25B1-641.52 cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm luận tội.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt đối với bị cáo và phần án phí. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện về nguyên nhân phạm tội, điều kiện, hoản cảnh, nhân thân của bị cáo; áp dụng khoản 1 Điều 251; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt. Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát soát 25B1-641.52, do đây là tài sản chung của gia đình bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin được nhận lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát soát 25B1-641.52 để làm phương tiện đi lại, do đây là tài sản chung của gia đình. Ngoài ra, không có yêu cầu gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình tham gia tố tụng, người bào chữa cho bị cáo thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Người làm chứng vắng tại phiên tòa, tại hồ sơ đã có đầy đủ lời khai trong quá trình điều tra, xét thấy sự vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội mà bị cáo Hoàng Văn L đã thực hiện:
có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 07 giờ, ngày 17/6/2024, tại nhà ở của Hoàng Văn L, thuộc bản N, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu, Hoàng Văn L đã bán trái phép chất ma túy, loại Heroine, cho Hoàng Văn Q lấy số tiền 200.000 đồng. Ngoài ra, Hoàng Văn L còn cất giấu 0,344 gam Heroine để bán kiếm lời. Khoảng 07 giờ 45 phút cùng ngày 17/6/2024, tổ công tác Công an xã N đến làm việc tại nhà L, L đã giao nộp 02 gói chất ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng 0,344 gam và số tiền 200.000 đồng. Hoàng Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ H1 là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi mua bán phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3] Tình tiết liên quan đến vụ án: Về nguồn gốc số ma túy, Hoàng Văn L khai mua của một người không rõ lai lịch cụ thể, ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có cơ sở để xác minh, điều tra làm rõ hành vi của người này. Việc bị cáo cất giấu 02 gói Heroine có tổng khối lượng 0,344 gam, mục đích để bán kiếm lời, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đối với Tẩn Thị M là vợ của bị cáo, là đồng sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-641.52. Quá trình điều tra xác định, khi sử dụng chiếc xe mô tô đi mua Heroine sử dụng và bán kiếm lời, L không nói cho M biết và M không biết nên M không đồng phạm trong vụ án này.
Đối với Hoàng Văn Q có hành vi mua Heroine của Hoàng Văn L để sử dụng. Q khai đã sử dụng hết số Heroine mua được, Công an huyện P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Q theo đúng quy định.
[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Ngày 20/3/2023, Hoàng Văn L bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, Hoàng Văn L đã chấp hành xong quyết định xử phạt và đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
[5] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra phiên tòa là phù hợp nên cần chấp nhận. Đối với quan điểm của người bào chữa về việc đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo hình phạt tù ở mức thấp nhất của khung hình phạt là không phù hợp, không đủ sức răn đe đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng: Số tiền 200.000 đồng là tiền bị cáo bán trái phép Heroine mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-641.52, kèm theo giấy đăng ký xe, do bị cáo sử dụng xe để đi mua Heroine về bán nên cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước. 02 chiếc bật lửa, 02 mảnh giấy bạc, các mảnh nilon và vỏ niêm phong vật chứng là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 0,344 gam Heroine thu của bị cáo đã gửi đi giám định không hoàn lại, Hội đồng xét xử không xem xét. Quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tẩn Thị M khai là đồng sở hữu đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-641.52 và có nguyện vọng được xin lại chiếc xe. Do bị cáo đã sử dụng chiếc xe làm công cụ, phương tiện phạm tội, cần tịch thu hóa giá nộp vào ngân sách Nhà nước nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu xin lại chiếc xe của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo xin được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm nên cần miễn án phí cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, b khoản 1 Điều 47; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố:
1. Bị cáo Hoàng Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn L: 02 (Hai) năm, 05 (Năm) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/6/2024.
2. Xử lý vật chứng:
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng đã thu của bị cáo.
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc bật lửa ga màu xanh, 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ, 02 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy, các mảnh nilon và vỏ niêm phong vật chứng.
(Toàn bộ vật chứng hiện đang được lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Tình trạng vật chứng được mô tả chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 13 giờ 30 phút, ngày 04/10/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).
3. Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |
6
Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 02/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 06/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BC bán trái phép CMT
